Tạp chí Y Dược Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal
<p><strong>Giấy phép xuất bản: 207/GP-BTTTT ngày 12 tháng 06 năm 2023<br />ISSN: 3030-4318 - eISSN: 3030-4326 - DOI: 10.34071/jmp</strong></p> <p>Tạp chí Y Dược Huế, Trường Đại học Y-Dược, Đại học Huế là một tạp chí mang bản sắc riêng và mang tính đặc thù nghề nghiệp của Trường Đại học Y Dược Huế nhằm mục đích phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học và cập nhật thông tin về lĩnh vực y dược cho cán bộ y tế ở miền Trung, Tây Nguyên và cho cả nước.</p> <p>Tạp chí được xếp vào danh mục các Tạp chí Khoa học được tính điểm công trình với số điểm là từ 0 – 1,0 điểm/công trình trong danh mục khoa học của Hội đồng Giáo sư ngành Y và 0 – 0,75 điểm/công trình trong danh mục khoa học Hội đồng Giáo sư ngành Dược.</p> <div> <div>Tạp chí Y Dược Huế tiền thân là Tạp chí Y Dược học (ISSN 1859-3836) ra đời và hoạt động từ 2011-2023 với giấy phép hoạt động số 1720/GP-BTTTT ngày 15/11/2010. Sau tháng 6/2023, Tạp chí Y Dược học đổi tên thành Tạp chí Y Dược Huế với giấy phép xuất bản số 207/GP-BTTTT ngày 12/6/2023 ở hai loại hình báo chí in và điện tử.</div> <div>Xem các số đã xuất bản tại Tạp chí Y Dược học <a href="http://jmp.huemed-univ.edu.vn" target="_blank" rel="noopener">tại đây</a>.</div> </div>Trường Đại học Y-Dược, Đại học Huếvi-VNTạp chí Y Dược Huế3030-4318[1057] Đánh giá kết quả và tính an toàn của chiến lược kẹp clip dự phòng sau cắt polyp đại trực tràng kích thước ≥ 20 mm
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1057
<p><strong>Mục tiêu:</strong> (1) Mô tả đặc điểm lâm sàng, nội soi và mô bệnh học của polyp đại trực tràng kích thước ≥ 20 mm; (2) Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của kỹ thuật kẹp clip dự phòng trong cắt các tổn thương này qua nội soi.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu quan sát được thực hiện trên 63 bệnh nhân với 67 polyp đại trực tràng kích thước ≥ 20 mm tại Bệnh viện Gia Đình Đà Nẵng (từ tháng 3/2024 đến tháng 9/2025). Các kỹ thuật can thiệp bao gồm cắt polyp bằng thòng lọng điện (HSP), cắt hớt niêm mạc nội soi thông thường (CEMR) và cắt hớt niêm mạc nội soi có cuống (S-EMR). Tất cả các trường hợp đều được kẹp clip dự phòng đóng kín diện cắt. Các tiêu chí đánh giá chính gồm tỷ lệ cắt nguyên khối, biến chứng sớm/muộn và kết quả nội soi theo dõi sau 3 tháng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Bệnh nhân chủ yếu là nam giới (55,6%) và trên 40 tuổi (77,8%). Polyp tập trung nhiều nhất ở đại tràng sigma (38,8%) và trực tràng (22,4%). Tỷ lệ cắt nguyên khối chung đạt 83,6%, trong đó kỹ thuật HSP đạt tỷ lệ cao nhất (92,5%, p = 0,01). Tổng cộng có 119 clip đã được sử dụng (trung bình 1,8 ± 1,2 clip/polyp). Đáng chú ý, không ghi nhận trường hợp nào bị chảy máu muộn sau cắt polyp (tỷ lệ 0%). Các biến chứng tức thì (chảy máu 3,2%, thủng 1,6%) đều được xử trí thành công qua nội soi. Sau 3 tháng theo dõi, tỷ lệ sót mô/tái phát là 3,2% và 6,3% trường hợp còn lưu clip cũ.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Kẹp clip dự phòng sau cắt polyp đại trực tràng kích thước lớn (≥ 20 mm) là một chiến lược an toàn và hiệu quả cao trong việc kiểm soát các biến chứng tức thì và ngăn ngừa chảy máu muộn.</p>Bùi Minh NhậtLê Viết Nho
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-28165182610.34071/jmp.2026.5.1057[933] Mối liên quan giữa áp lực đường thở và áp lực bóng chèn ống nội khí quản trong phẫu thuật nội soi phụ khoa
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/933
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Trong quá trình thông khí nhân tạo, nhiều yếu tố có thể làm tăng áp lực bóng chèn ống nội khí quản vượt quá áp lực tưới máu niêm mạc khí quản, gây ra đau họng, khàn tiếng sau phẫu thuật. Nghiên cứu của chúng tôi được thiết kế để kiểm tra giả thuyết rằng trong phẫu thuật nội soi phụ khoa, tăng áp lực bóng chèn ống nội khí quản có liên quan trực tiếp với sự gia tăng áp lực đường thở do độ giãn nở hô hấp giảm. <strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 100 bệnh nhân phẫu thuật nội soi phụ khoa. Tất cả bệnh nhân được gây mê toàn thân sử dụng ống nội khí quản với bóng chèn áp lực thấp, thể tích cao. Sau khi điều chỉnh về 25 cmH2O, áp lực bóng chèn được đo liên tục bằng đồng hồ. Dữ liệu về áp lực bóng chèn và áp lực đường thở, các thông số thông khí cơ học, áp lực trong ổ bụng được thu thập trong suốt quá trình gây mê. <strong>Kết quả: </strong>Áp lực bóng chèn thay đổi đáng kể sau những biến đổi đồng thời áp lực đường thở, từ 25 cmH2O trước khi bơm hơi phúc mạc, lên 32 (30 - 36) cmH2O sau khi bơm hơi phúc mạc và giảm xuống 22 (20 - 24) cmH2O sau khi xả hơi phúc mạc (p < 0,05). Phân tích cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa áp lực đỉnh đường thở và áp lực bóng chèn nội khí quản: áp lực đỉnh đường thở tăng 1 cmH₂O thì áp lực bóng chèn nội khí quản tăng trung bình 0,39 cmH₂O (hệ số ước tính β = 0,39; KTC 95%: 0,25 - 0,53; p < 0,05). <strong>Kết luận: </strong>Ở những bệnh nhân phẫu thuật nội soi phụ khoa, sự gia tăng áp lực đường thở trong quá trình bơm khí phúc mạc ở tư thế đầu thấp dẫn đến tăng trực tiếp áp lực bóng chèn ống nội khí quản.</p>Lê Văn TâmTrần Thị Thu ThảoNguyễn Đức Hoàng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-28165525710.34071/jmp.2026.5.933[976] Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm túi thừa đại tràng có biến chứng
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/976
<p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ viêm túi thừa đại tràng trái thấp hơn nhưng tỷ lệ biến chứng và tỷ lệ phải phẫu thuật cao hơn so với viêm túi thừa đại tràng phải ở các nước châu Á.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm túi thừa đại tràng có biến chứng.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu tiến cứu gồm 53 bệnh nhân viêm túi thừa đại tràng có biến chứng điều trị tại Khoa Ngoại Tiêu hóa, Bệnh viện Đại học Y – Dược Huế từ tháng 4/2023 đến tháng 1/2026</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình của bệnh nhân viêm túi thừa đại tràng có biến chứng là 44,9, trong đó độ tuổi trung bình của bệnh nhân viêm túi thừa đại tràng phải là 39,0 thấp hơn so với 67,2 ở bên trái. Tỷ lệ nam/nữ là 2,7. Đau bụng chiếm 100%. Số lượng bạch cầu trung bình là 12,2 K/µL, 71,7% bệnh nhân có tăng bạch cầu. CRP trung bình 101,7 mg/L. Trong số bệnh nhân này, 46 bệnh nhân được điều trị nội khoa, 7 bệnh nhân điều trị ngoại. Tất cả bệnh nhân điều trị ngoại khoa đều có viêm túi thừa ở đại tràng trái. Trong các phương pháp phẫu thuật, phẫu thuật Hartmann là lựa chọn chính. Thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân viêm túi thừa đại tràng phải là 6,2 ngày so với 15,8 ngày ở viêm túi thừa đại tràng trái. Với nhóm bệnh nhân điều trị ngoại khoa: tỷ lệ biến chứng là 57,1%, tỷ lệ tử vong là 14,3%.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>VTTĐT thường gặp ở bên phải hơn bên trái. Độ tuổi trung bình của bệnh nhân VTTĐT phải thấp hơn của bệnh nhân VTTĐT trái. Tỷ lệ biến chứng viêm phúc mạc, thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân VTTĐT trái cao hơn bên phải.</p>Nguyễn Hữu TríLê PhụngPhan Đình Tuấn DũngNguyễn Quang Bảo TúĐoàn Phước Vựng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510.34071/jmp.2026.5.976Kết quả can thiệp nội mạch điều trị xơ vữa động mạch đùi-khoeo ở bệnh nhân thiếu máu chi mạn tính đe dọa chi
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1018
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Thiếu máu chi mạn tính đe dọa chi (CLTI) do xơ vữa động mạch có nguy cơ cắt cụt lớn và tử vong. Tổn thương tầng đùi khoeo thường dài, đa tầng và khó tái thông, trong khi dữ liệu trong nước về kết quả can thiệp nội mạch còn hạn chế.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, bệnh đồng mắc và giải phẫu tổn thương; đồng thời đánh giá kết quả sớm và kết quả 12 tháng của can thiệp nội mạch tái thông động mạch đùi khoeo ở bệnh nhân CLTI.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, đơn trung tâm, chọn mẫu toàn bộ liên tiếp gồm 36 bệnh nhân với 43 chi được can thiệp nội mạch tầng đùi khoeo tại Bệnh viện Thống Nhất từ 01/2023 - 01/2025. Các đặc điểm nền và tử vong được phân tích theo bệnh nhân; đặc điểm tổn thương, kết quả kỹ thuật, thông mạch và bảo tồn chi được phân tích theo chi. Kết quả được đánh giá sau can thiệp, tại 6 tháng và 12 tháng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của bệnh nhân là 74,3 ± 13,2 tuổi; bệnh thận mạn chiếm 41,7%. Trong 43 chi được can thiệp, 41,9% có mất mô, tổn thương đa tầng chiếm 55,8% và TASC II C/D chiếm 74,4%. ABI tăng từ 0,44 ± 0,11 trước can thiệp lên 0,71 ± 0,15 sau can thiệp. Thành công kỹ thuật đạt 90,7% và cải thiện lâm sàng ít nhất một bậc Rutherford đạt 95,3% sau can thiệp. Tỷ lệ thông mạch nguyên phát quan sát được tại 6 và 12 tháng lần lượt là 81,4% và 79,1%. Đến 12 tháng, cải thiện lâm sàng còn 86,0%, có bốn chi cắt cụt lớn và tỷ lệ bảo tồn chi thô là 90,7%. Không ghi nhận tử vong chu phẫu; tử vong do mọi nguyên nhân trong 12 tháng là 11,1%. Tổn thương thận cấp sau sử dụng thuốc cản quang được ghi nhận ở 25,0% bệnh nhân.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Can thiệp nội mạch tầng đùi khoeo đạt tỷ lệ thành công kỹ thuật cao, cải thiện ABI và duy trì thông mạch ở phần lớn số chi trong 12 tháng. Tỷ lệ bảo tồn chi tại 12 tháng đạt 90,7%. Tuy nhiên, kết quả cần được xem xét trong giới hạn của nghiên cứu hồi cứu, đơn trung tâm và cỡ mẫu nhỏ.</p>Nguyễn Đỗ NhânLê Quang Thứu
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510.34071/jmp.2026.5.1018[866] Nghiên cứu nồng độ albumin huyết thanh trong tiên lượng nặng ở bệnh nhân sốt xuất huyết dengue người lớn
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/866
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Giảm albumin máu nghiêm trọng trong sốt xuất huyết dengue (SXHD) là một dấu hiệu tiên lượng nặng. Tình trạng giảm albumin máu này không chỉ là hậu quả mà còn là yếu tố thúc đẩy quá trình thoát huyết tương ra khỏi lòng mạch, làm tăng mức độ cô đặc máu, dẫn đến sốc giảm thể tích và các biến chứng đe dọa tính mạng khác.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> 1. Khảo sát một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nồng độ albumin huyết thanh ở bệnh nhân sốt xuất huyết dengue người lớn, 2. Đánh giá giá trị tiên lượng nặng của albumin ở bệnh nhân sốt xuất huyết dengue người lớn.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 153 bệnh nhân ≥16 tuổi được chẩn đoán SXHD nhập viện tại khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Trung ương Huế, từ tháng 3/2024 đến tháng 8/2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Biểu hiện lâm sàng: tràn dịch màng bụng, tràn dịch màng phổi (48,42%), đau bụng (35,48%), nôn nhiều (20,16%), xuất huyết niêm mạc (41,13%). Xét nghiệm albumin huyết thanh: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của nồng độ albumin ngày bệnh 4-5 giữa các mức độ bệnh (p<0,01). Với điểm cắt nồng độ albumin huyết thanh ngày bệnh 4-5 là 32 g/L, nồng độ albumin huyết thanh có giá trị phân biệt mức độ nặng của bệnh (AUC) là 0,852, khoảng tin cậy 0,738 – 0,966, độ nhạy 74,1%, độ đặc hiệu 83,3%. Có mối liên quan giữa nồng độ albumin huyết thanh ngày 4-5 của bệnh với sốc, xuất huyết nặng, suy tạng (p < 0,05). Có mối tương quan thuận giữa nồng độ albumin huyết thanh ngày 4-5 của bệnh với số lượng tiểu cầu (p <0,05). Có mối tương quan nghịch giữa nồng độ albumin huyết thanh ngày 4-5 của bệnh với chỉ số AST, ALT với hematocrit (p <0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nồng độ albumin ngày 4-5 của bệnh giảm dần theo các mức độ nặng của bệnh sốt xuất huyết dengue, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Có mối liên quan giữa nồng độ albumin huyết thanh ngày 4-5 của bệnh với sốc, xuất huyết nặng, suy tạng. Nồng độ albumin huyết thanh ngày 4-5 của bệnh tương quan thuận với tiểu cầu, tương quan nghịch với chỉ số AST, ALT và hematocrit.</p>Nguyễn Duy BìnhNguyễn Thị HươngCao Thị Lan HươngPhạm Thị Như HảiLê Vũ PhongHoàng Trọng HanhTrần Xuân Chương
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510.34071/jmp.2026.5.866[1669] Đánh giá kết quả điều trị và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân gãy mâm chày được phẫu thuật kết hợp xương có ứng dụng khái niệm 3 cột
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1669
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Phân loại 3 cột dựa trên hình ảnh CT đã được giới thiệu để đánh giá gãy mâm chày và phân loại chính xác hơn, từ đó giúp lên kế hoạch điều trị cụ thể cho bệnh nhân.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá kết quả điều trị và rút ra những kinh nghiệm từ việc ứng dụng khái niệm 3 cột trong phẫu thuật gãy mâm chày.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Gồm 40 bệnh nhân được chẩn đoán là gãy mâm chày được điều trị bằng phẫu thuật kết hợp xương có ứng dụng khái niệm 3 cột tại bệnh viện Đà Nẵng từ tháng 3/2022 đến tháng 7/2023.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Bệnh nhân trong độ tuổi lao động chiếm 87,5%, phần lớn do tai nạn giao thông (92,5%). Gãy 1 cột (47,5%) hay gặp nhất, gãy cột ngoài chiếm tỷ lệ cao nhất (85,0%), gãy cột sau chiếm 40,0%. Đường mổ trước ngoài được thực hiện chủ yếu (92,5%), đường mổ sau chiếm 35,0%. Thời gian phẫu thuật trung bình là 81,2 ± 13,5 phút, số lượng cột tổn thương càng nhiều thì thời gian phẫu thuật trung bình càng kéo dài, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Tỷ lệ nắn chỉnh đạt yêu cầu 80,0%. Có 97,5% bệnh nhân lành vết mổ kỳ đầu mà không có tình trạng nhiễm trùng. Kết quả điều trị thời kỳ hậu phẫu theo Larson–Bostman có tới 82,5% bệnh nhân đạt kết quả rất tốt và tốt. Tại thời điểm 6 tháng sau mổ, có tới 95,0% số bệnh nhân đạt kết quả rất tốt và tốt theo thang điểm Rasmussen, 100% bệnh nhân đều có dấu hiệu liền xương trên X-quang. Tỷ lệ bệnh nhân có chất lượng cuộc sống đạt sau 6 tháng chiếm 80,0%.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Ứng dụng khái niệm 3 cột trong điều trị gãy mâm chày có vai trò hỗ trợ đánh giá tổn thương và lập kế hoạch phẫu thuật, đặc biệt trong các trường hợp gãy phức tạp. Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy các kết quả ngắn hạn khả quan về phục hồi chức năng và chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật.</p>Trần Hữu DũngPhùng Cao CườngNguyễn Thành Khang
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-28165273510.34071/jmp.2026.5.1669[1250] Ứng dụng thang điểm NEWS (National Early Warning Score) trong tiên lượng bệnh nhân nhập viện cấp cứu tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1250
<p><strong>Đặt v</strong><strong>ấn</strong><strong> đề: </strong>Bệnh nhân nhập viện cấp cứu với nhiều nguyên nhân và mức độ nặng rất khác nhau. Việc đánh giá, phân loại mức độ nặng là rất quan trọng để có biện pháp xử trí ban đầu phù hợp. Thang điểm cảnh báo sớm quốc gia (NEWS) được khuyến cáo sử dụng rộng rãi để đánh giá tình trạng lâm sàng xấu đi và dự báo tỷ lệ tử vong tại các phòng cấp cứu trên nhiều nước.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong> Khảo sát đặc điểm thang điểm NEWS và phân tích giá trị tiên lượng xảy ra biến chứng nhập vào hồi sức, tử vong của thang điểm NEWS trên bệnh nhân cấp cứu.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu cắt ngang trên 352 bệnh nhân nhập viện cấp cứu tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Thang điểm NEWS và tỷ lệ bệnh nhân nguy cơ cao của nhóm nhập vào hồi sức hoặc nhóm tử vong cao hơn so với nhóm không biến chứng (p < 0,05). Với điểm cắt ≥ 5, thang điểm NEWS có giá trị tiên lượng nhập vào hồi sức, tử vong hoặc kết hợp biến chứng và tử vong cao với AUC lần lượt là 0,859, 0,920, 0,888 (p < 0,001). Bệnh nhân có thang điểm NEWS ≥ 5 có nguy cơ cần nhập vào hồi sức cao gấp khoảng 18,31 lần, nguy cơ tử vong cao gấp khoảng 30,05 lần và nguy cơ biến chứng và tử vong cao gấp khoảng 24,29 lần so với bệnh nhân có thang điểm NEWS < 5 điểm (p < 0,001).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Thang điểm NEWS có giá trị trong tiên lượng nhập vào hồi sức, tử vong hoặc kết hợp biến chứng và tử vong. Bệnh nhân có thang điểm NEWS ≥ 5 có nguy cơ cao xảy ra biến chứng nhập vào hồi sức hoặc tử vong.</p> <p> </p>Trần Xuân ThịnhVõ Việt HàPhan Thắng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-28165364210.34071/jmp.2026.5.1250Tỷ lệ trầm cảm và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi tại quận Liên chiểu, thành phố Đà nẵng
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/740
<p><strong>Mục tiêu: ̣</strong> (1) Xác điṇh tỷ lê ̣có nguy cơ trầm cảm ở người cao tuổi (NCT) tại quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng bằng thang GDS-30. (2) Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu.</p> <p><strong>Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu</strong>: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 607 người từ 60 tuổi trở lên sống tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Nghiên cứu sử dụng thang GDS-30 để đánh giá trầm cảm và phỏng vấn theo bộ câu hỏi để tìm các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu. Sử dụng mô hình hồi quy đa biến logistic để kiểm định các yếu tố liên quan đến trầm cảm.</p> <p> <strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ có nguy cơ trầm cảm là 33,8%: trầm cảm nhẹ 27,2%, trung bình 6,4% và nặng 0,2%. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm bao gồm giới, tuổi, công việc kiếm sống hiện tại, kết cấu gia đình, nguồn thu nhập hiện tại, trong gia đình có người mắc trầm cảm, được quyết định vấn đề quan trọng của gia đình, khám sức khỏe định kỳ, mắc biến cố trong vòng 12 tháng qua, mắc biến cố lớn trong cuộc đời và đời sống tình dục.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Trầm cảm ở NCT là phổ biến, việc phát hiện sớm và tìm hiểu các yếu tố liên quan để can thiệp sớm và phòng ngừa trầm cảm ở NCT là rất cần thiết.</p>Đoàn Vương Diễm KhánhTrần Viết Gia
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510.34071/jmp.2026.5.740[811] Khảo sát các chứng trạng theo y học cổ truyền và áp dụng phương pháp mục chẩn mô tả mạch máu củng mạc mắt trên bệnh nhân u xơ tử cung
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/811
<p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Mục chẩn là phương pháp chẩn đoán dựa vào quan sát mạch máu trên củng mạc mắt, nơi được xem như “cửa sổ” phản ánh khí huyết và tạng phủ, mở ra hướng tiếp cận toàn diện trong chẩn đoán của y học cổ truyền, trong đó có u xơ tử cung.</p> <p>Mục tiêu: Mô tả đặc điểm về màu sắc, hình dạng mạch máu củng mạc mắt ở hướng 6h theo phương pháp mục chẩn và một số chứng trạng y học cổ truyền trên bệnh nhân u xơ tử cung.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 134 bệnh nhân được chẩn đoán xác định u xơ tử cung theo kết quả giải phẫu bệnh và điều trị nội trú tại khoa Phụ Sản - bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ thể khí trệ huyết ứ (38,1%) và khí hư huyết ứ (36,6%) chiếm đa số, thấp nhiệt ứ trệ (20,9%) và thể đàm thấp ứ kết (4,5%) chiếm tỉ lệ thấp hơn. Mạch máu củng mạc xuất hiện tại vị trí 6 giờ với tỷ lệ cao ở cả hai mắt (83,6% mắt trái; 85,8% mắt phải). Trong đó, màu đỏ tươi chiếm tỷ lệ cao nhất (38,7% mắt trái; 35,7% mắt phải), tiếp theo là đỏ nhạt và hồng. Dạng gấp khúc là phổ biến nhất (37,3% mắt trái; 35,8% mắt phải). Tỷ lệ có gốc mạch máu 59,8% ở mắt trái và 58,3 % ở mắt phải.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Những đặc điểm mạch máu củng mạc mắt xuất hiện với tỷ lệ cao ở cả hai mắt tại vị trí 6 giờ với màu sắc thường gặp đỏ tươi, đỏ nhạt, hình dạng gấp khúc và có gốc, giúp hỗ trợ trong biện chứng liên quan đến cơ chế huyết ứ trong u xơ tử cung.</p>Đoàn Văn MinhHoàng Thế HiệpLê Nguyễn Bảo ThiĐỗ Thị Uyên TrânDương Thị Ngọc DiệpNgô Thanh DiệpNguyễn Thị Kim UyênHoàng Đình ThắngLê Trần Hải Đăng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-281659310010.34071/jmp.2026.5.811Đánh giá hiệu quả điều trị thống kinh nguyên phát bằng phương pháp nhĩ châm trên sinh viên nữ Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/584
<p><strong> Đặt vấn đề:</strong> Thống kinh là một vấn đề lớn đối với giới trẻ ngày nay, bởi tác động tiêu cực của nó đến chất lượng cuộc sống trong những ngày hành kinh. Thống kinh được phân ra 2 loại là Thống kinh nguyên phát và Thống kinh thứ phát. Trong những năm gần đây, nhĩ châm là phương pháp có nhiều triển vọng trong điều trị Thống kinh nguyên phát.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả điều trị Thống kinh nguyên phát bằng phương pháp nhĩ châm trên sinh viên nữ Trường Đại học Y-Dược, Đại học Huế.</p> <p><strong> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> nghiên cứu can thiệp lâm sàng không có nhóm chứng, so sánh sự thay đổi của thang điểm VAS, RSS-Cox, EQ-5D-5L tại thời điểm trước và sau can thiệp nhĩ châm, trên 33 sinh viên nữ trường Đại học Y-Dược, Đại học Huế được chẩn đoán Thống kinh nguyên phát.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Nhĩ châm làm giảm điểm đau VAS trung bình từ 6,55±1,37 còn 3,36±1,72 điểm (p <0,001); có sự cải thiện rõ rệt về điểm trung bình tần suất RSS-Cox 1 với điểm cải thiện 7,67±3,36 (p <0,05) và mức độ RSS-Cox 2 với điểm cải thiện là 8,39±6,30 (p <0,05) của các triệu chứng Thống kinh theo thang điểm hồi cứu triệu chứng RSS-Cox; điểm chất lượng cuộc sống trung bình EQ-5D-5L trước can thiệp là 0,63±0,18, tăng lên 0,78±0,22 điểm sau can thiệp (p <0,05).</p> <p> <strong>Kết luận:</strong> Như vậy điều trị bằng phương pháp nhĩ châm có hiệu quả trên sinh viên nữ mắc Thống kinh nguyên phát, giúp cải thiện điểm đau, tần suất, mức độ của các triệu chứng Thống kinh và giúp nâng cao chất lượng cuộc sống trong những ngày hành kinh.</p>Đoàn Thị Nhật LệLê Thị LyLê Thị Thu ThảoBùi Lưu Phương Thảo
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510.34071/jmp.2026.5.584[945] Kiến thức và thái độ học kỹ năng giao tiếp trong khai thác bệnh sử của sinh viên Y khoa, Răng hàm mặt và Y học cổ truyền năm thứ tư tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/945
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Kỹ năng giao tiếp hiệu quả trong khai thác bệnh sử không chỉ nâng cao độ chính xác chẩn đoán mà còn cải thiện sự hài lòng, tuân thủ điều trị của người bệnh và giảm thiểu sai sót y khoa. Tại Việt Nam, bằng chứng về kiến thức và thái độ của sinh viên ngành Y khoa, Răng Hàm Mặt và Y học cổ truyền đối với việc học kỹ năng này còn hạn chế.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát kiến thức và thái độ của sinh viên năm thứ tư các ngành Y khoa, Răng Hàm Mặt và Y học cổ truyền đối với việc học kỹ năng giao tiếp trong khai thác bệnh sử và xác định các yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành từ 12/2025 đến 1/2026 trên 404 sinh viên năm thứ tư thuộc ba ngành trên. Sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc, trong đó thang Thái độ học kỹ năng giao tiếp CSAS (Communication Skills Attitude Scale) được sử dụng để đánh giá thái độ. Dữ liệu được phân tích bằng SPSS 26.0, với p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Sinh viên có thái độ tích cực đối với việc học kỹ năng giao tiếp (PAS) = 48,51 ± 6,94), trong khi thái độ tiêu cực ở mức thấp (NAS = 33,21 ± 7,71). Trong đó PAS và NAS của sinh viên y khoa lần lượt là 48,98 ± 7,20, 33,51 ± 8,09; PAS và NAS của sinh viên Răng Hàm Mặt là 47,76 ± 6,97 và 33,61 ± 7,80; PAS và NAS sinh viên Y học cổ truyền là 48,70 ± 6,42 và 32,19 ± 6,89. Về kiến thức kỹ năng giao tiếp thì 39,8% sinh viên đạt mức tốt, 36,2% trung bình và 24,0% chưa tốt. Sinh viên Y khoa và Răng Hàm Mặt có kiến thức cao hơn so với sinh viên Y học cổ truyền (40,9% và 47,7% so với 22,8%). Kiến thức tốt có liên quan chặt chẽ đến thái độ tích cực (p < 0,001), trong khi giới tính, kết quả học tập hay nơi cư trú khác biệt không có ý nghĩa.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Sinh viên năm tư ba ngành bác sĩ Y khoa, Răng Hàm Mặt và Y học cổ truyền có thái độ tích cực đối với việc học kỹ năng giao tiếp. Tuy nhiên, kiến thức kỹ năng giao tiếp trong khai thác bệnh sử vẫn còn hạn chế. Thái độ học kỹ năng giao tiếp có liên quan chặt chẽ với kiến thức về kỹ năng giao tiếp.</p>Hồ Anh HiếnLê Thị Thu SươngHồ Thị Phương ThúyVõ Văn Nhật KhoaNguyễn Minh HuyTrần Thị Thanh ThảoPhạm Thị ThảoLê Thị Hải Yến
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-28165677410.34071/jmp.2026.5.945[762] Đặc điểm tổn thương huyết học ở bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/762
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Lupus ban đỏ hệ thống (SLE) là bệnh tự miễn mạn tính, trong đó các tổn thương huyết học như thiếu máu, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu là rất phổ biến và có ý nghĩa tiên lượng quan trọng. Tuy nhiên, tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> 1) Xác định tỷ lệ các tổn thương huyết học, và 2) Xác định mối liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ (tuổi, anti ds-DNA, bổ thể C3, C4) với các tổn thương huyết học ở bệnh nhân SLE.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 159 bệnh nhân SLE được chẩn đoán theo tiêu chuẩn SLICC tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 9 đến tháng 12/2024. Các tổn thương huyết học (thiếu máu, thiếu máu tán huyết miễn dịch, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu) được định nghĩa theo tiêu chí cụ thể. Phân tích thống kê được sử dụng để đánh giá mối liên quan.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ chung có tổn thương huyết học là 32,1% (51/159 bệnh nhân). Các tổn thương cụ thể gặp lần lượt là: thiếu máu tán huyết miễn dịch (18,9%), giảm lymphocyte (11,3%), giảm neutrophil (4,4%) và giảm tiểu cầu (5%). Tuổi trẻ có liên quan có ý nghĩa thống kê với thiếu máu tán huyết miễn dịch, giảm lymphocyte và tổn thương huyết học chung. Tăng anti ds-DNA (≥ 25 U/mL) có liên quan đến giảm lymphocyte và tổn thương huyết học chung. Giảm bổ thể C3 và C4 có liên quan đến thiếu máu tán huyết miễn dịch, giảm lymphocyte, giảm neutrophil (chỉ C4) và tổn thương huyết học chung. Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa các yếu tố này với giảm tiểu cầu.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tổn thương huyết học là phổ biến ở bệnh nhân SLE, với các dạng thường gặp là thiếu máu tán huyết miễn dịch và giảm tế bào lymphocyte. Các yếu tố như tuổi trẻ, tăng anti ds-DNA và giảm bổ thể C3, C4 có liên quan đến sự xuất hiện của các tổn thương này. Do đó, cần tầm soát các bất thường huyết học ở tất cả bệnh nhân SLE, đặc biệt là những bệnh nhân trẻ tuổi, để can thiệp và điều trị kịp thời.</p>Huỳnh Phan Phúc LinhVõ Tam
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816513314010.34071/jmp.2026.5.762Bán định lượng sự lắng đọng sắt thông qua giá trị SWI/phase ở các nhân xám trung ương
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1055
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Định lượng gián tiếp hàm lượng sắt tại các nhân xám trung ương dựa trên hình phase từ chuỗi xung nhạy cảm từ SWI tại Bệnh viện Đại học Y - Dược Huế.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 62 bệnh nhân chưa ghi nhận bất thường trên MRI sọ não có sử dụng chuỗi xung SWI từ tháng 03/2023 đến tháng 04/2024. Độ lệch phase của các nhân xám trung ương được đo lường từ hình phase của chuỗi xung SWI. Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả và kiểm định so sánh cặp theo giới tính và vị trí (trái/phải), tương quan so với tuổi; p < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Giá trị phase cao nhất được ghi nhận tại đồi thị, tiếp theo là bèo sẫm, nhân đỏ, chất đen, cầu nhạt và nhân đuôi. Tuổi tỉ lệ thuận với mức độ lắng đọng sắt tại nhân đuôi, bèo sẫm, cầu nhạt, đồi thị và chất đen (p < 0,05). Trong đó, bèo sẫm thể hiện mối tương quan mạnh nhất (r > 0,5; p < 0,05). Có sự khác biệt có ý nghĩa về nồng độ sắt giữa hai bán cầu não tại các vị trí bèo sẫm, cầu nhạt và nhân đỏ. Sự khác biệt có ý nghĩa giữa nam và nữ được tìm thấy ở nhân đỏ và cầu nhạt (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Gia tăng lắng đọng sắt theo độ tuổi tại hầu hết các vị trí, bao gồm nhân đuôi, bèo sẫm, cầu nhạt, đồi thị và chất đen. Sự phân bố sắt cho thấy tính bất đối xứng: nồng độ sắt tập trung cao hơn ở bán cầu phải đối với bèo sẫm, trong khi ở bán cầu trái, sắt lắng đọng nhiều hơn tại cầu nhạt và nhân đỏ.</p>Trần Phan Hữu LợiNguyễn Thanh ThảoPhan Thị Thanh HươngTrần Văn HưngHoàng Ngọc Thành
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816511812510.34071/jmp.2026.5.1055[914] Nghiên cứu tỷ lệ, đặc điểm và các yếu tố liên quan của bệnh thận đái tháo đường ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 đang điều trị ngoại trú
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/914
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Bệnh thận đái tháo đường là biến chứng mạn tính thường gặp của đái tháo đường típ 2, đặc biệt dễ bị bỏ sót ở giai đoạn sớm trong điều trị ngoại trú, làm chậm trễ phát hiện và can thiệp.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỷ lệ, đặc điểm và phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh thận đái tháo đường ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 381 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế Phú Vang từ tháng 7/2024 đến tháng 2/2025. Bệnh thận đái tháo đường được phân loại theo KDIGO 2022. Hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ bệnh thận đái tháo đường là 24,4%, trong đó giai đoạn 1–2 chiếm 79,6%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê gồm thừa cân, béo phì, thời gian mắc bệnh kéo dài, có bệnh mạn tính kèm theo, không sử dụng thuốc ức chế men chuyển/ức chế thụ thể angiotensin, không tuân thủ hoạt động thể lực và dùng thuốc, cũng như không đạt mục tiêu HbA1c và huyết áp (p<0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bệnh thận đái tháo đường có tỷ lệ đáng kể ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú và liên quan chặt chẽ đến các yếu tố chuyển hóa, bệnh lý kèm theo và mức độ tuân thủ điều trị. Việc tăng cường sàng lọc định kỳ và kiểm soát đa yếu tố là cần thiết nhằm phát hiện sớm và làm chậm tiến triển bệnh.</p>Nguyễn Minh HùngNgô Thị Khánh TrangHoàng Bùi Bảo
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816516817510.34071/jmp.2026.5.914[745] Kiến thức, thái độ và thực hành tự khám vú ở sinh viên nữ Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/745
<p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Ung thư vú là ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ với xu hướng ngày càng trẻ hóa. Theo GLOBOCAN 2022, có khoảng 2,3 triệu ca mắc mới và 670.000 ca tử vong trên toàn cầu; tại Việt Nam, ung thư vú đứng đầu ở nữ giới (24.563 ca mới, 13,6%). Tự khám vú (TKV) là biện pháp đơn giản, ít tốn kém giúp phát hiện sớm bất thường, song mức độ hiểu biết và thực hành đúng còn thấp, ngay cả trong nhóm sinh viên y – lực lượng nòng cốt cho giáo dục sức khỏe.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong> <strong>nghiên cứu</strong> nhằm mô tả kiến thức–thái độ–thực hành (KAP) và các yếu tố liên quan đến TKV ở sinh viên nữ Y khoa.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang, chọn mẫu phân tầng theo năm học, khảo sát trực tuyến từ 7/10/2024–1/7/2025 trên 336 sinh viên nữ Y khoa. Phân tích hồi quy logistic đa biến được dùng để xác định các yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Kiến thức đạt (≥70%) chiếm 47,6%, thái độ đạt 52,1%. Hiểu biết đúng về tần suất, thời điểm và thao tác còn hạn chế. Khoảng 50% sinh viên từng TKV, 30,3% thực hiện hằng tháng. Hành vi TKV tăng theo năm học và liên quan độc lập với kiến thức, thái độ, và nguồn thông tin từ nhân viên y tế.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> KAP về TKV ở sinh viên nữ Y khoa còn khoảng trống ở duy trì định kỳ; cần chuẩn hóa thông điệp thời điểm–tần suất và truyền thông do NVYT dẫn dắt để chuyển từ “đã từng” sang “hàng tháng”.</p>Nguyễn Thị Ngọc TrinhHuỳnh Thị Cẩm Tú
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-28165586610.34071/jmp.2026.5.745Liệt cơ hoành sau gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường liên cơ bậc thang
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/991
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Liệt cơ hoành tạm thời sau gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường liên cơ bậc thang là một biến chứng thường gặp và có thể gia tăng biến cố hô hấp ở bệnh nhân có bệnh lý hô hấp kèm theo. <strong>Mục tiêu:</strong> So sánh tỷ lệ liệt cơ hoành sau gây tê giữa hai nồng độ thuốc tê levobupivacain 0,375% và 0,5% sử dụng cùng liều 2 mg/kg và phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan đến giảm SpO₂ trong phẫu thuật. <strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên được thực hiện trên 80 bệnh nhân phẫu thuật xương đòn và chi trên. Biên độ di động và vận tốc cơ hoành đo bằng siêu âm trước và 20 phút sau gây tê. <strong>Kết quả:</strong> Bệnh nhân được gây tê đám rối thần kinh cánh tay dưới hướng dẫn siêu âm thành công để phẫu thuật có tỷ lệ liệt cơ hoành 100%. Nhóm sử dụng levobupivacain 0,375% với thể tích 29,3 mL có mức độ liệt cơ hoành hoàn toàn cao hơn có ý nghĩa so với nhóm 0,5% với thể tích 23,0 mL (77,5% so với 27,5%, p < 0,05). Liệt cơ hoành hoàn toàn, tuổi ≥ 60 và BMI ≥ 25 là các yếu tố nguy cơ liên quan đến giảm SpO₂ trong quá trình phẫu thuật. <strong>Kết luận:</strong> Thể tích thuốc tê thấp và nồng độ cao hơn giúp làm giảm mức độ liệt cơ hoành, đồng thời giảm nguy cơ tụt SpO₂ trong quá trình phẫu thuật.</p>Phan ThắngTrần Văn ĐiềuHồ Khả Cảnh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510.34071/jmp.2026.5.991[816] Thực trạng vấn đề thuốc liên quan đến liệu pháp chống đông đường uống trên người bệnh rung nhĩ không do bệnh van tim tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/816
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Không tối ưu điều trị trong rung nhĩ là một thực trạng phổ biến trong y văn.</p> <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu</strong>: Xác định các vấn đề thuốc (VĐT) liên quan liệu pháp chống đông đường uống (OAC) ở người bệnh (NB) rung nhĩ không do bệnh van tim điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, lấy mẫu tiến cứu, dữ liệu thu thập qua phỏng vấn trực tiếp, đơn thuốc và hồ sơ bệnh án điện tử. VĐT được mã hoá theo công cụ ViMed®.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong số 130 NB, 127 được chỉ định thuốc OAC, chủ yếu là thuốc chống đông đường uống không kháng vitamin K (94,6%). Tỷ lệ gặp VĐT là 87,7%, với tổng cộng 178 VĐT. VĐT thường gặp nhất liên quan đến liều dùng (33,7%) và theo dõi điều trị (24,2%). Các yếu tố có liên quan đến việc ít xuất hiện VĐT hơn gồm CrCl 30-<50 ml/phút (p = 0,008), được tư vấn về thuốc OAC (p = 0,011) và bệnh tăng huyết áp (p = 0,011). Bệnh suy tim (p < 0,001) có liên quan có ý nghĩa với sự xuất hiện VĐT cao hơn.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> VĐT khá phổ biến ở người bệnh rung nhĩ ngoại trú, cho thấy cần có sự can thiệp trúng đích để cải thiện an toàn thuốc.</p>Trần Ngọc LinhNguyễn Vũ Phương AnhNguyễn Đức Quỳnh ChâuNguyễn Liên NhựtLê Cao Phương DuyVõ Thị Hà
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510811710.34071/jmp.2026.5.816Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi chỉnh hình chuỗi xương con
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/718
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Chuỗi xương con gồm xương búa, xương đe và xương bàn đạp khớp với nhau đưa âm thanh vào tai trong.Tổn thương xương con có thể xảy ra sau nhiễm trùng, chấn thương hoặc bất thường bẩm sinh. Có rất nhiều vật liệu khác nhau được sử dụng trong chỉnh hình chuỗi xương con.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong>: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình thái tổn thương và kết quả phẫu thuật chỉnh hình chuỗi xương con.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> 40 bệnh nhân với 43 tai được phẫu thuật chỉnh hình chuỗi xương con tại bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 3/2023 đến tháng 3/2025.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tuổi trung bình là 44,12 ± 16,27 tuổi. Lý do vào viện chính là nghe kém. Sức nghe khí đạo trung bình là 66,86 ± 20,10 dB. Khoảng cách khí xương trung bình là 40,52 ± 11,49 dB. Xương đe bị tổn thương ở tất cả bệnh nhân. Phần lớn sử dụng vật liệu tự thân, 1 trường hợp sử dụng titanium. Sau phẫu thuật: Sức nghe khí đạo trung bình sau phẫu thuật 3 tháng là 46,76 ± 17,21 dB, 6 tháng là 41,69 ± 16,43 dB. Khoảng cách khí xương trung bình sau phẫu thuật 3 tháng là 23,99 ± 7,94 dB, 6 tháng là 21,97 ± 7,83 dB. Sau 6 tháng 35 bệnh nhân đạt ABG ≤ 25 dB.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phương pháp chỉnh hình chuỗi xương con cho kết quả khả quan và có thể tiếp tục thực hiện trong tương lai.</p>Nguyễn NguyệnTrần Phương Anh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-28165758410.34071/jmp.2026.5.718[970] Ảnh hưởng của thiếu cơ lên kết cục lâm sàng ngắn hạn ở bệnh nhân cao tuổi có loãng xương điều trị ngoại trú
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/970
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát ảnh hưởng của thiếu cơ theo bộ câu hỏi SARC-CalF lên kết cục lâm sàng ngắn hạn (té ngã, nhập viện do mọi nguyên nhân, tử vong) trong 6 tháng theo dõi ở bệnh nhân cao tuổi có loãng xương điều trị ngoại trú.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu cắt ngang mô tả, theo dõi dọc 6 tháng (07/2023–05/2024), thực hiện trên 422 bệnh nhân cao tuổi có loãng xương điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. Thiếu cơ được xác định bằng SARC-F, SARC-CalF và chu vi vòng bắp chân. Kết cục lâm sàng (té ngã, nhập viện do mọi nguyên nhân, tử vong) được ghi nhận sau 6 tháng, so sánh giữa nhóm thiếu cơ và không thiếu cơ theo SARC-CalF.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tỉ lệ thiếu cơ theo SARC-F, SARC-CalF và chu vi vòng bắp chân lần lượt là 7,58%, 37,91% và 54,98%. Sau 6 tháng, nhóm thiếu cơ (SARC-CalF) có tỉ lệ té ngã (33,12%) và nhập viện do mọi nguyên nhân (43,12%) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không thiếu cơ (11,83% và 8,78%; p < 0,001), chưa ghi nhận tử vong. Hồi quy đa biến cho thấy thiếu cơ (SARC-CalF) liên quan độc lập với nhập viện do mọi nguyên nhân (OR = 8,7; KTC 95% 4,29–17,64; p < 0,001).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tỉ lệ thiếu cơ ở bệnh nhân cao tuổi loãng xương điều trị ngoại trú khác nhau đáng kể tuỳ công cụ tầm soát; SARC-CalF có thể ưu tiên sử dụng nhờ cân bằng tốt giữa hoạt động thể chất và khối lượng cơ. Thiếu cơ (SARC-CalF) liên quan độc lập với nhập viện do mọi nguyên nhân sau 6 tháng, gợi ý cần tầm soát sớm để có chiến lược theo dõi và can thiệp phù hợp.</p>Võ Hoàng Duy KhaCao Thanh NgọcPhạm Ngọc Thùy TrangTrần Hồng Thụy
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816514114710.34071/jmp.2026.5.970[797] Khảo sát sự biến đổi đầu thị thần kinh trên bệnh nhân glôcôm góc mở nguyên phát bằng OCT-A
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/797
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Glôcôm là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa không hồi phục, với cơ chế liên quan đến tổn thương tiến triển của thần kinh thị giác. Bên cạnh tăng nhãn áp (NA), giảm tưới máu đầu thị thần kinh cũng đóng vai trò quan trọng. OCT-A là kỹ thuật hiện đại, không xâm lấn, giúp định lượng chính xác vi tuần hoàn tại đầu thị thần kinh.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh glôcôm góc mở nguyên phát. Khảo sát sự biến đổi đầu thị thần kinh và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân glôcôm góc mở nguyên phát bằng OCT-A.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang không đối chứng trên 53 mắt của 31 bệnh nhân được chẩn đoán glôcôm góc mở nguyên phát đến khám tại Phòng khám Mắt Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 04/2024 đến tháng 05/2025.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình là 65,2 ± 15,8. Nam giới chiếm tỷ lệ 61,3%. 48,4% bệnh nhân có bệnh THA. Nhóm NA ≤ 21 mmHg chiếm tỷ lệ 83%. Áp lực tưới máu nhãn cầu trung bình là 47,1 ± 8,4 mmHg. MD trung bình và PSD trung bình của giai đoạn sớm lần lượt là -4,69 ± 1,14 dB và 3,09 ± 0,44 dB; của giai đoạn trung bình là -9,81 ± 1,72 dB và 4,72 ± 1,27 dB; của giai đoạn muộn là -15,97 ± 2,66 dB và 5,33 ± 1,47 dB. RNFL trung bình là 69,4 ± 15,73 µm. GCC trung bình là 73,4 ± 12,8 µm. VD trung bình là 8,88 ± 2,80 mm<sup>-1</sup>. PD trung bình là 40,85 ± 10,44%. Đặc điểm mạch máu vùng quanh đĩa thị tương quan với nhiều chỉ số trên OCT và mức độ trầm trọng của bệnh.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu cho thấy mật độ mạch máu và mật độ tưới máu ở bệnh nhân glôcôm góc mở nguyên phát là những chỉ số đáng tin cậy giúp cho việc chẩn đoán và theo dõi tiến triển bệnh glôcôm.</p> <p><strong>Từ khoá:</strong> glôcôm, OCT-A</p>Lê Viết Nhật HưngPhạm Như Vĩnh TuyênNguyễn Võ Diễm Quỳnh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816516216710.34071/jmp.2026.5.797Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị và đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị bỏng tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/609
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Bỏng là một trong những chấn thương thường gặp, không chỉ gây tổn thương mô tại chỗ mà còn ảnh hưởng lâu dài đến chức năng, tâm lý và chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh. Tuy nhiên, các nghiên cứu đánh giá CLCS bằng công cụ EQ-5D-5L ở bệnh nhân bỏng tại Việt Nam, đặc biệt khu vực miền Trung, còn hạn chế. <strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị và đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bỏng điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi trên 34 bệnh nhân (54 vị trí bỏng) điều trị nội trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2024. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, điều trị và di chứng được thu thập. Chất lượng cuộc sống được đánh giá bằng thang EQ-5D-5L tại các thời điểm trước bỏng, trước điều trị, sau điều trị 1 tháng và 3 tháng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nhóm tuổi 18–59 chiếm đa số (73,5%), nguyên nhân chủ yếu là bỏng do nhiệt ướt (64,7%). Phần lớn bệnh nhân nhập viện trong vòng 6 giờ sau bỏng (76,5%), tuy nhiên tỷ lệ sơ cứu đúng cách còn thấp (38,2%). Đa số trường hợp có diện tích bỏng dưới 10% diện tích cơ thể (79,4%), vị trí bỏng thường gặp nhất là chi dưới (38,9%) và bỏng độ III chiếm tỷ lệ cao nhất (44,4%). Thay băng đơn thuần và cắt lọc hoại tử kết hợp thay băng là hai phương pháp điều trị chủ yếu. Sau 3 tháng theo dõi, sẹo phì đại là di chứng thường gặp nhất (25,9%). Điểm CLCS (EQ-5D-5L index) giảm đáng kể ngay sau bỏng, sau đó cải thiện rõ rệt sau điều trị 1 tháng và tiếp tục tăng sau 3 tháng. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy giới tính, sơ cứu đúng cách, nguyên nhân bỏng và sẹo phì đại có liên quan đến CLCS trong giai đoạn sớm sau điều trị, trong khi sau 3 tháng, sẹo phì đại là yếu tố duy nhất còn duy trì mối liên quan độc lập với CLCS.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bỏng do nhiệt ướt là nguyên nhân thường gặp nhất; phần lớn bệnh nhân có diện tích bỏng dưới 10% diện tích cơ thể và nhập viện sớm nhưng tỷ lệ sơ cứu đúng cách còn thấp. Chất lượng cuộc sống giảm rõ rệt ngay sau bỏng và cải thiện dần theo thời gian điều trị. Sẹo phì đại là yếu tố liên quan độc lập với CLCS sau 3 tháng, nhấn mạnh vai trò của sơ cứu đúng cách, điều trị toàn diện và dự phòng sẹo phì đại trong nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bỏng.</p>Trần Nhật TiếnLê Hồng Phúc
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510.34071/jmp.2026.5.609[946] Ảnh hưởng của tình trạng stress oxy hóa tinh dịch lên chức năng tình dục nam giới ở cặp vợ chồng vô sinh
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/946
<p><strong>TÓM TẮT</strong></p> <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Nghiên cứu có mục tiêu khảo sát mối liên quan giữa stress oxy hóa tinh dịch bằng chỉ số đo cân bằng thế oxy hoá - khử, và chức năng tình dục ở nam giới trong các cặp vợ chồng vô sinh.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> 183 nam giới từ cặp vợ chồng được chẩn đoán vô sinh đến khám và điều trị tại Trung tâm Nội tiết sinh sản và Vô sinh, Trường Đại học Y-Dược Huế. Bệnh nhân có đầy đủ thông tin và đồng ý tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân được thăm khám cơ quan sinh dục nam và đánh giá chức năng tình dục dựa vào thang điểm IIEF-15. Mẫu tinh dịch được phân tích kết quả stress oxy hóa bằng phương pháp đo cân bằng thế oxy hóa – khử.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Bệnh nhân có tăng tình trạng ORP trong tinh dịch có tỉ lệ đạt sự cực khoái tốt thấp hơn so với nhóm ORP bình thường (69,4% so với 77,0%; p=0,049). Tương tự, điều này được nhận thấy ở đặc điểm thỏa mãn toàn diện đời sống tình dục (37,2% so với 50,8%; p=0,006). Giá trị ORP có sự tương quan nghịch với tổng điểm thể hiện sự đạt cực khoái, và sự thỏa mãn đời sống tình dục. Tuy nhiên, mức độ tương quan cho thấy ở mức yếu (-0,247 và -0,211; p=0,040 và p=0,045).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tình trạng stress oxy hóa tinh dịch xác định bằng đo cân bằng thế oxy hóa – khử có liên quan với sự rối loạn đạt cực khoái và suy giảm sự thỏa mãn toàn diện về đời sống tình dục ở nam giới vô sinh.</p>Nguyễn Đắc NguyênĐặng Thị Hồng NhạnNguyễn Văn TrungCao Ngọc ThànhLê Minh Tâm
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816514815410.34071/jmp.2026.5.946[763] Các yếu tố liên quan dung tích sống gắng sức ở bệnh nhân xơ cứng bì toàn thể có bệnh phổi kẽ
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/763
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Xơ cứng bì toàn thể (XCBTT) là một bệnh lý mô liên kết hệ thống có tổn thương đa cơ quan. Bệnh phổi kẽ (BPK) là một trong những tổn thương cơ quan làm tăng biến chứng và tử vong ở bệnh nhân XCBTT. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá mối liên quan giữa một số yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng với dung tích sống gắng sức (%FVC) trên bệnh nhân XCBTT có BPK.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang này được tiến hành nhằm đánh giá các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh phổi kẽ (BPK) liên quan đến xơ cứng bì toàn thể (XCBTT) và mối liên quan giữa các yếu tố này với dung tích sống gắng sức (%FVC).</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu thu nhận tổng cộng 106 bệnh nhân XCBTT có BPK, được chẩn đoán dựa trên tiêu chuẩn ACR/EULAR 2013 và hình ảnh cắt lớp vi tính lồng ngực độ phân giải cao (HRCT). Dân số nghiên cứu chủ yếu là nữ giới (91,5%), với độ tuổi trung bình là 51,3 ± 10,3 tuổi và thời gian mắc bệnh trung vị là 5 năm. Bệnh nhân trong nghiên cứu có tình trạng suy giảm chức năng phổi mức độ trung bình, với %FVC dự đoán trung bình là 60,84%. Về kiểu hình tổn thương, viêm phổi kẽ không đặc hiệu (NSIP) là kiểu hình thường gặp nhất (53,8%), kế đến là viêm phổi kẽ thông thường (UIP) chiếm 41,5%. Phân tích đơn biến cho thấy %FVC có liên quan nghịch với nồng độ LogKL6, áp lực động mạch phổi thì tâm thu (PAPs), và số lượng tiểu cầu (PLT). %FVC dự đoán của kiểu tổn thương UIP cũng thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với kiểu hình NSIP. Sau phân tích hồi quy tuyến tính đa biến, chỉ còn hai yếu tố có liên quan có ý nghĩa thống kê với %FVC dự đoán là LogKL6 (p < 0,001) và PAPs (p = 0,012). Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tầm soát BPK do các triệu chứng lâm sàng (như ho khan, khó thở) chỉ gặp trong khoảng một nửa số bệnh nhân.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Bệnh phổi kẽ là một tổn thương cơ quan quan trọng trong XCBTT. Cần tầm soát BPK ở mọi bệnh nhân XCBTT ngay cả khi không có triệu chứng lâm sàng. KL-6 là một yếu tố lâm sàng quan trọng có liên quan với BPK ở bệnh nhân XCBTT.</p>Trần Ngọc Hữu ĐứcNguyễn Đình KhoaNguyễn Hoàng Thanh Vân
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-28165859210.34071/jmp.2026.5.763Nghiên cứu biểu hiện của chỉ văn ngón tay trỏ trong cơn hen phế quản cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Trung tâm Nhi khoa Bệnh viện Trung ương Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/919
<p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Hen phế quản là một trong những bệnh lý hô hấp phổ biến ở trẻ em, ảnh hưởng đến sức khỏe, sự tăng trưởng và phát triển của trẻ, đồng thời tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội. Ở trẻ dưới 5 tuổi, việc chẩn đoán và đánh giá mức độ cơn hen phế quản còn gặp nhiều khó khăn. Quan sát chỉ văn ngón tay trỏ là một phương pháp Y học Cổ truyền, có ưu điểm đơn giản, dễ áp dụng, chi phí thấp, tuy nhiên giá trị của phương pháp này trong đánh giá mức độ của cơn hen phế quản cấp ở trẻ vẫn chưa được làm rõ đầy đủ.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá mối liên quan giữa đặc điểm chỉ văn ngón tay trỏ với mức độ cơn hen phế quản cấp của trẻ dưới 5 tuổi.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 115 trẻ dưới 5 tuổi được chẩn đoán cơn hen phế quản cấp theo tiêu chuẩn Bộ Y tế, điều trị tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Trung Ương Huế từ tháng 08/2024 đến tháng 09/2025. Chẩn đoán và phân loại mức độ cơn hen phế quản cấp được thực hiện theo tiêu chuẩn Bộ Y tế. Các biến nghiên cứu chính bao gồm vị trí, màu sắc, độ chìm- nổi và hình dạng của chỉ văn ngón tay trỏ. Mối liên quan giữa các biến được phân tích bằng kiểm định Chi-square, Fisher’s exact test và hồi quy logistic nhị phân.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Vị trí, màu sắc và độ chìm- nổi của chỉ văn ngón tay trỏ ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ của cơn hen phế quản cấp (p < 0,05), trong khi hình dạng chưa ghi nhận có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Phân tích hồi quy logistic cho thấy vị trí chỉ văn ngón tay trỏ (OR = 2,28; KTC 95%: 1,15-4,52), độ chìm nổi (OR = 72,77; KTC 95%: 11,78-449) và màu sắc (OR = 6,51; KTC 95%: 1,42-29,84) là các yếu tố có liên quan độc lập với khả năng thuộc nhóm cơn hen phế quản cấp mức độ trung bình/nặng. Ngưỡng vị trí chỉ văn từ khí quan (2.1 trở lên) có giá trị tiên lượng mức độ nặng của cơn hen phế quản cấp có độ chính xác (A) 72,2%, độ đặc hiệu (Sp) là 88%, độ nhạy (Se) là 67,8% và giá trị dự báo dương tính (Vp) là 95,3%.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Quan sát chỉ văn ngón tay trỏ có giá trị hỗ trợ trong đánh giá mức độ của cơn hen phế quản cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi.</p>Nguyễn Bùi Diệu HươngĐoàn Văn Minh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510.34071/jmp.2026.5.919Đánh giá hiệu quả sonde foley bóng đôi cải tiến trong khởi phát chuyển dạ ở thai đủ tháng: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1636
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Khởi phát chuyển dạ là chủ động gây cơn co tử cung trước khi có chuyển dạ tự nhiên. Trong đó, ứng dụng sonde Foley bóng đôi cải tiến trong khởi phát chuyển dạ và bước đầu ghi nhận tính khả thi.<br /><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá hiệu quả và các yếu tố liên quan đến khởi phát chuyển dạ ở thai đủ tháng bằng sonde Foley bóng đôi cải tiến.<br /><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 52 sản phụ được chỉ định khởi phát chuyển dạ bằng sonde Foley bóng đôi cải tiến tại Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 4/2021 đến tháng 4/2022. Các thông tin về đặc điểm sản phụ, chỉ số Bishop, phương pháp kết thúc thai kỳ, tác dụng không mong muốn và kết cục sơ sinh được thu thập và phân tích.<br /><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ chín muồi cổ tử cung sau can thiệp là 76,9%, tỷ lệ khởi phát chuyển dạ thành công đạt 63,5%. Chỉ số Bishop tăng trung bình 4,21 ± 1,39 điểm (p < 0,05). Tỷ lệ sinh đường âm đạo là 32,7%. Tác dụng không mong muốn và biến chứng thấp, không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng ở mẹ và sơ sinh. Chỉ số Bishop trước khởi phát < 3 điểm liên quan đến tỷ lệ thành công thấp hơn (p = 0,015), các yếu tố khác như tuổi mẹ, BMI, tiền sử sản khoa, tuổi thai, cân nặng sơ sinh không có ý nghĩa thống kê.<br /><strong>Kết luận:</strong> Sonde Foley bóng đôi cải tiến là phương pháp an toàn và khả thi trong khởi phát chuyển dạ ở thai đủ tháng, phù hợp với các cơ sở y tế có nguồn lực hạn chế.</p> <p> </p>Nguyễn HoàngHồ Thị Thanh HuyềnNguyễn Thị Kim AnhLê Lam HươngTrần Thị Tú HiênNguyễn Võ Thuỳ TiênTrần Thiện ThànhVõ Hoàng Lâm
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816512613210.34071/jmp.2026.5.1636Nhân hai trường hợp tràn dịch đa màng - biểu hiện hiếm gặp của bệnh viêm dạ dày ruột tăng bạch cầu ái toan (EGE) tại Bệnh viện Nhân Dân 115
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/753
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đáp ứng điều trị của hai trường hợp tràn dịch đa màng do viêm dạ dày–ruột tăng bạch cầu ái toan (EGE) thể thanh mạc tại Bệnh viện Nhân Dân 115.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Báo cáo ca có mô tả chi tiết diễn tiến, xét nghiệm máu (bạch cầu ái toan và IgE tăng), phân tích dịch báng SAAG thấp–protein cao, chẩn đoán hình ảnh (CT/siêu âm), nội soi–sinh thiết, và theo dõi sau điều trị corticosteroid.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Cả hai bệnh nhân đều có tràn dịch màng bụng ± màng phổi, tăng bạch cầu ái toan ngoại biên đáng kể và IgE huyết thanh tăng; đã loại trừ nguyên nhân nhiễm trùng, ký sinh trùng, tự miễn và ác tính. Lợi tiểu không hiệu quả; methylprednisolone giúp hết đau bụng/tiêu chảy, giảm nhanh dịch báng và bạch cầu ái toan trở về bình thường sau 1 tuần; tái khám 2 tuần, 1 và 3 tháng ổn định.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Ở bệnh nhân tràn dịch đa màng không rõ nguyên nhân kèm tăng bạch cầu ái toan, cần nghĩ đến EGE thể thanh mạc. Corticosteroid toàn thân là liệu pháp khởi trị hiệu quả; chiến lược duy trì cần cá thể hóa và theo dõi tái phát. </p>Lê Thị Tuyết PhượngTrần Kinh ThànhNgân Thu ThảoHuỳnh Đào Nhật HuyKim Văn Thành
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510.34071/jmp.2026.5.753Tiêu sợi huyết liều thấp, truyền chậm trong điều trị huyết khối van tim cơ học tắc nghẽn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hoá: Báo cáo chùm 4 trường hợp
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/670
<p><strong>Đặt</strong><strong> vấn đề</strong><strong>: </strong>Huyết khối van nhân tạo tắc nghẽn là một biến chứng nặng, có thể gây suy tim cấp và tử vong. Phẫu thuật là phương pháp điều trị tiêu chuẩn, tuy nhiên cũng có nhiều biến chứng và không phải khi nào cũng khả khi tại các bệnh viện tuyến tỉnh. Tiêu sợi huyết (TSH) bằng rt-PA liều thấp - truyền chậm được xem phương pháp thay thế hiệu quả và an toàn<strong>.</strong></p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tính khả thi, an toàn và hiệu quả dựa trên báo cáo chùm ca bệnh điều trị huyết khối van hai lá cơ học bằng tiêu sợi huyết liều thấp – truyền chậm tại Bệnh viện Đa khoa Thanh Hóa.</p> <p> <strong>Đối tượng và</strong> <strong>p</strong><strong>hương pháp:</strong> Báo cáo chùm 4 ca bệnh huyết khối van hai lá cơ học tắc nghẽn trong giai đoạn 10/2020–10/2022. Chẩn đoán bằng siêu âm tim và đánh giá vận động van dưới mang tăng sáng của máy DSA. Điều trị bằng rt-PA liều 50mg truyền tĩnh mạch trong 6 giờ, có thể lặp lại nếu cần và theo dõi bằng siêu âm tim định kỳ/đánh giá di động van dưới màn tăng sáng và bilan đông máu. <strong>Kết quả:</strong> Có 4 ca huyết khối van hai lá cơ học tắc nghẽn. Trong đó 3 ca bệnh cần 2 chu kì TSH (tổng liều 100 mg), ca số 4 chỉ dùng 1 liều 50 mg. 3/4 ca thành công hoàn toàn, ca số 4 thành công một phần. Ca bệnh nhân số 4 có cơn thiếu máu não thoáng qua, không có xuất huyết hoặc tử vong. Tất cả bệnh nhân đều có INR lúc nhập viện dưới ngưỡng điều trị.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Tiêu sợi huyết liều thấp – truyền chậm là phương pháp khả thi, hiệu quả và tương đối an toàn trong điều trị huyết khối van cơ học tắc nghẽn, đặc biệt khi phẫu thuật cấp cứu không sẵn sàng. Cần có các nghiên cứu cỡ mẫu lớn để hơn để khẳng định kết quả này.</p>Dương Quang HiệpLê Văn CườngĐỗ Thị Phương AnhLê Thế AnhTrịnh Thị Hoạt
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510.34071/jmp.2026.5.670[961] Tổng quan các nghiên cứu ứng dụng khai thác dữ liệu trong phân tích quy luật phối huyệt châm cứu
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/961
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Việc lựa chọn và phối hợp huyệt trong châm cứu chủ yếu dựa trên kinh nghiệm lâm sàng, dẫn đến sự không đồng nhất giữa các phác đồ và khó khăn trong chuẩn hóa. Gần đây, khai thác dữ liệu được ứng dụng để phân tích quy luật phối huyệt, tuy nhiên các nghiên cứu còn phân tán theo từng bệnh và phương pháp, khiến xu hướng ứng dụng data mining trong châm cứu chưa được tổng hợp rõ ràng.</p> <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> Tổng hợp và phân tích các nghiên cứu ứng dụng khai thác dữ liệu trong phân tích quy luật phối huyệt châm cứu ở những nhóm bệnh lý khác nhau.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu được thực hiện theo hình thức tổng quan tài liệu. Các nghiên cứu liên quan đến ứng dụng khai thác dữ liệu trong châm cứu được thu thập từ các cơ sở dữ liệu khoa học và phân loại theo nhóm bệnh, phương pháp khai thác dữ liệu và các huyệt cốt lõi được phân tích.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Luật kết hợp là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu phân tích quy luật phối huyệt châm cứu, tiếp theo là phân tích cụm và phân tích mạng lưới. Các quy luật phối huyệt thể hiện tính nhất quán tương đối trong từng nhóm bệnh, đồng thời cho thấy sự lặp lại của một số huyệt cốt lõi xuất hiện ở nhiều bệnh lý khác nhau, tiêu biểu là Hợp Cốc (LI4) và Túc Tam Lý (ST36), bên cạnh các huyệt mang tính đặc hiệu theo từng bệnh cảnh.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Tổng quan này cung cấp một cái nhìn tổng thể về xu hướng và đặc điểm ứng dụng khai thác dữ liệu trong nghiên cứu châm cứu, góp phần hệ thống hóa và khái quát hóa các quy luật phối huyệt đã được báo cáo.</p>Trần Nhật MinhPhan Thanh Kim HuệHuỳnh Thị NgaTrần Ngọc Anh ThưJun Hyeong Joon
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-09-282026-09-2816510.34071/jmp.2026.5.961