Tạp chí Y Dược Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal
<p><strong>Giấy phép xuất bản: 207/GP-BTTTT ngày 12 tháng 06 năm 2023<br />ISSN: 3030-4318 - eISSN: 3030-4326 - DOI: 10.34071/jmp</strong></p> <p>Tạp chí Y Dược Huế, Trường Đại học Y-Dược, Đại học Huế là một tạp chí mang bản sắc riêng và mang tính đặc thù nghề nghiệp của Trường Đại học Y Dược Huế nhằm mục đích phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học và cập nhật thông tin về lĩnh vực y dược cho cán bộ y tế ở miền Trung, Tây Nguyên và cho cả nước.</p> <p>Tạp chí được xếp vào danh mục các Tạp chí Khoa học được tính điểm công trình với số điểm là từ 0 – 1,0 điểm/công trình trong danh mục khoa học của Hội đồng Giáo sư ngành Y và 0 – 0,75 điểm/công trình trong danh mục khoa học Hội đồng Giáo sư ngành Dược.</p> <div> <div>Tạp chí Y Dược Huế tiền thân là Tạp chí Y Dược học (ISSN 1859-3836) ra đời và hoạt động từ 2011-2023 với giấy phép hoạt động số 1720/GP-BTTTT ngày 15/11/2010. Sau tháng 6/2023, Tạp chí Y Dược học đổi tên thành Tạp chí Y Dược Huế với giấy phép xuất bản số 207/GP-BTTTT ngày 12/6/2023 ở hai loại hình báo chí in và điện tử.</div> <div>Xem các số đã xuất bản tại Tạp chí Y Dược học <a href="http://jmp.huemed-univ.edu.vn" target="_blank" rel="noopener">tại đây</a>.</div> </div>Trường Đại học Y-Dược, Đại học Huếvi-VNTạp chí Y Dược Huế3030-4318Hiệu quả cải thiện chất lượng giấc ngủ của viên nang lạc tiên tây trên bệnh nhân mất ngủ nguyên phát tại Bệnh viện Y học cổ truyền Thành phố Hồ Chí Minh
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1218
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Mất ngủ nguyên phát là tình trạng bệnh lý phổ biến gây suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống, trong khi các thuốc an thần hóa dược hiện nay tiềm ẩn nhiều tác dụng phụ khi sử dụng kéo dài.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả cải thiện chất lượng giấc ngủ và tính an toàn của viên nang Passiflora incarnata L. (Lạc tiên tây) trên bệnh nhân mất ngủ nguyên phát.</p> <p><strong> Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng trên 60 bệnh nhân mất ngủ nguyên phát (chia 2 nhóm n = 30). Nhóm can thiệp dùng 03 viên nang Lạc tiên tây/ngày; nhóm chứng dùng 02 viên Rotundin/ngày. Đánh giá chỉ số PSQI và thông số giấc ngủ chủ quan sau 2 và 4 tuần điều trị.</p> <p><strong> Kết quả:</strong> Nhóm Lạc tiên tây cải thiện điểm PSQI 38,88% sau 2 tuần (p > 0,05) và 49,8% sau 4 tuần (p < 0,01). Tổng thời gian ngủ tăng thêm lần lượt 1,9 giờ và 2,44 giờ; thời gian đi vào giấc ngủ giảm 36 phút và 56 phút sau 2 và 4 tuần (p > 0,05). Không ghi nhận tác dụng phụ không mong muốn.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Viên nang Lạc tiên tây an toàn và hiệu quả trong việc cải thiện chất lượng giấc ngủ, tăng thời gian ngủ và giảm thời gian vào giấc.</p>Nguyễn Thị ChinhLê Hoàng Minh QuânTrần Thanh Loan
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816391410.34071/jmp.2026.3.1218Hiệu quả tiệt trừ Helicobacter pylori của phác đồ hai thuốc liều cao rabeprazole-amoxicillin cải tiến ở bệnh nhân bệnh lý dạ dày - tá tràng
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/931
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Phác đồ hai thuốc liều cao cải tiến (mHDDT), sử dụng ít thuốc hơn (bao gồm thuốc ức chế bơm proton và amoxicillin) nhưng vẫn duy trì hiệu quả tiệt trừ <em>Helicobacter pylori</em>, đặc biệt ở những vùng có tỷ lệ kháng amoxicillin thấp. Mục tiêu: (1) Đánh giá hiệu quả tiệt trừ của phác đồ mHDDT và so sánh với phác đồ 4 thuốc có bismuth (RBMT) ở bệnh nhân bệnh lý dạ dày tá tràng nhiễm <em>H. pylori.</em> (2) Khảo sát tác dụng ngoại ý và mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân.<strong> Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ 4/2022 đến 8/2023, trên 103 bệnh nhân nhiễm <em>H. pylori</em> được chia ngẫu nhiên thành hai nhóm: Nhóm mHDDT và nhóm RBMT. <strong>Kết quả</strong>: Phân tích ITT, tỷ lệ tiệt trừ <em>H. pylori</em> là 80,0% đối với nhóm mHDDT và 81,1% đối với nhóm RBMT (p = 0,810). Phân tích theo PP cho thấy tỷ lệ lần lượt là 81,6% và 86,0% (p = 0,555). Đáng chú ý, tỷ lệ tác dụng phụ thấp hơn đáng kể ở nhóm mHDDT (30,6%) so với nhóm RBMT (84,0%) (p < 0,001). Tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn ở nhóm mHDDT (91,8% so với 78,0%; p = 0,055. <strong>Kết luận:</strong> Phác đồ mHDDT là một lựa chọn điều trị đơn giản, mang lại hiệu quả tương đương RBMT trong tiệt trừ <em>H. pylori, </em>cải thiện rõ rệt các triệu chứng lâm sàng và liền niêm mạc dạ dày tá tràng<em>, </em>nhưng ít tác dụng phụ hơn đáng kể.</p>Lê Viết NhoTrần Như Bảo HânHà thị Minh Thi
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-28163152110.34071/jmp.2026.3.931Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả xử trí ban đầu bệnh nhân suy hô hấp cấp tại Trung tâm Cấp cứu - Đột quỵ Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/661
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Suy hô hấp cấp là tình trạng khẩn cấp thường gặp tại khoa cấp cứu, đòi hỏi chẩn đoán và xử trí kịp thời để giảm nguy cơ tử vong. Ở những nơi nguồn lực thiếu X-quang tại giường, siêu âm tại giường, phương tiện hỗ trợ hô hấp tiên tiến, việc đánh giá và điều trị ban đầu gặp nhiều khó khăn. Một số yếu tố tiên lượng sớm có thể giúp bác sĩ đưa ra quyết định lâm sàng chính xác hơn.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong> Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy hô hấp cấp và đánh giá kết quả xử trí ban đầu bệnh nhân suy hô hấp cấp và các yếu tố ảnh hưởng.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 53 bệnh nhân suy hô hấp cấp vào Trung tâm Cấp cứu - Đột quỵ, Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Bệnh nhân suy hô hấp cấp vào khoa cấp cứu có độ tuổi trung bình 70,62 ± 15,09 tuổi. Tần số thở trung bình 27,47 ± 5,67 lần/phút, SpO<sub>2</sub> trung bình 78,0 ± 10,30%. Nguyên nhân thường gặp: đợt cấp COPD (41,51%), cơn hen phế quản (22,64%), viêm phổi (13,21%), suy tim mất bù cấp (9,43%). Tỷ lệ bệnh nhân thất bại điều trị ban đầu là 39,62%. Các yếu tố có liên quan với không đáp ứng điều trị là tần số thở ≥ 30 lần/phút (p = 0,04), Glasgow < 15 (p = 0,003), vã mồ hôi (p < 0,001), xanh tím (p < 0,001), pH < 7,25 (p = 0,02). Không có yếu tố nào tiên đoán độc lập với không đáp ứng điều trị ban đầu.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Bệnh nhân suy hô hấp vào khoa cấp cứu chủ yếu là người già (> 65 tuổi), nguyên nhân bệnh hô hấp và tim mạch là phổ biến, triệu chứng suy hô hấp mức độ trung bình - nặng. Các yếu tố liên quan đến không đáp ứng điều trị như tần số thở tăng, điểm Glasgow giảm, vã mồ hôi, xanh tím, pH máu giảm, cần theo dõi sát tình trạng lâm sàng của bệnh nhân để phát hiện sớm các dấu hiệu thất bại trong điều trị. </p>Nguyễn Khánh HuyBùi Thị Thúy Nga
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-28163222810.34071/jmp.2026.3.661Tác dụng gây độc tế bào ung thư, chống oxy hóa và kháng vi sinh vật của cao chiết từ cây Giác đế miên (Goniothalamus tamirensis)
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/768
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Ung thư, bệnh nhiễm khuẩn và stress oxy hóa đang là những thách thức lớn đối với sức khỏe con người, thúc đẩy nhu cầu tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học mạnh. <em>Goniothalamus tamirensis</em> – một dược liệu thuộc chi <em>Goniothalamus</em> tiềm năng nhưng chưa được nghiên cứu nhiều về hoạt tính sinh học. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> phần trên mặt đất của cây Giác đế miên. Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào bằng phương pháp sử dụng thuốc nhuộm SRB. Đánh giá hoạt tính chống oxy hóa bằng mô hình DPPH và đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật bằng phương pháp pha loãng nồng độ. <strong>Kết quả:</strong> cao ethyl acetat và cao methanol ức chế dòng tế bào ung thư vú, ung thư phổi và ung thư gan ở người với các giá trị IC<sub>50</sub> lần lượt trong khoảng 7,72-16,87 mg/mL và 19,36 – 42,02 mg/mL. Cao methanol ức chế 3 chủng vi khuẩn Gram (+) <em>Staphylococcus aureus</em>, <em>Bacillus subtilis</em>, <em>Lactobacillus fermentum </em>với các giá trị IC<sub>50</sub> lần lượt là 167,1; 5,89 và 27,3 mg/mL. Cao ethyl acetat ức chế 2 chủng vi khuẩn Gram (+) là <em>Staphylococcus aureus</em>, <em>Bacillus subtilis </em>với các giá trị IC<sub>50</sub> lần lượt là 153,7 và 176,2 mg/mL. Cao <em>n</em>-hexane và cao ethyl acetat thể hiện khả năng chống oxy hóa tương đối tốt với IC<sub>50 </sub>lần lượt là 30,15 và 19,08 µg/mL. <strong>Kết luận:</strong> Cao chiết Giác đế miên thể hiện tiềm năng sinh học đáng chú ý, mở ra hướng khai thác và phát triển nguồn thực vật này thành nguồn nguyên liệu làm thuốc trong tự nhiên.</p>Nguyễn Khánh Thuỳ Linh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-28163293610.34071/jmp.2026.3.768Nghiên cứu xây dựng quy trình chế tạo xương đông khô chiếu xạ
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/782
<p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Xương đông khô đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng như một vật liệu ghép tiềm năng trong điều trị các khuyết hổng nha chu và hứa hẹn mở rộng ứng dụng trong các lĩnh vực chấn thương chỉnh hình và phẫu thuật cột sống. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tiêu chuẩn bảo quản xương đông khô chiếu xạ vẫn còn hạn chế, do đó việc thiết lập một quy trình bảo quản khoa học, hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế là yêu cầu cấp thiết để nâng cao giá trị ứng dụng của vật liệu này trong lâm sàng.</p> <p> <strong>Mục tiêu:</strong> Nghiên cứu xây dựng quy trình chế tạo Xương đông khô chiếu xạ.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Đối tượng nghiên cứu gồm 40 mẫu xương người đồng loại (allograft) được thu nhận từ các nguồn hiến tặng hợp pháp. Sau khi trải qua quy trình xử lý xương nhằm loại bỏ các thành phần không mong muốn và đảm bảo an toàn trước khi tiến hành đông khô, các mẫu được đông khô và chiếu xạ bằng tia gamma nhằm mục đích tiệt trùng. Các mẫu xương này được sử dụng để đánh giá chất lượng, tính ổn định và đặc tính sinh học trong các điều kiện bảo quản khác nhau.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Kết quả nghiên cứu cho thấy quy trình đông khô kết hợp chiếu xạ xương người đồng loại với liều 25 kGy giúp đạt hiệu quả tiệt trùng tuyệt đối, với tỉ lệ vô khuẩn sau chiếu xạ đạt 100%. Đồng thời, các đặc tính cơ học và sinh học của vật liệu vẫn được duy trì ở mức chấp nhận được khi chiếu xạ được thực hiện ở điều kiện nhiệt độ thấp. Hàm lượng ẩm sau đông khô dưới 6%, đáp ứng tiêu chuẩn bảo quản dài hạn. Việc kiểm soát nghiêm ngặt điều kiện xử lý và bảo quản đóng vai trò then chốt trong duy trì chất lượng vật liệu, góp phần định hướng xây dựng quy trình chuẩn cho ứng dụng lâm sàng tại Việt Nam.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu đã xây dựng thành công một quy trình chế tạo xương người đồng loại đông khô chiếu xạ, đảm bảo tính khả thi trong điều kiện thực tế tại Việt Nam. Quy trình bao gồm các bước xử lý sơ bộ trong môi trường vô khuẩn, làm sạch bằng oxy già và rửa siêu âm, đông khô ở –60 °C đến khi hàm lượng nước còn lại dưới 6%, và chiếu xạ bằng tia gamma với liều chuẩn 25 kGy. Kết quả cho thấy quy trình này không những đạt hiệu quả tiệt trùng tuyệt đối mà còn duy trì được các đặc tính cơ học và sinh học cơ bản của vật liệu.</p> <p> </p>Trần Anh HùngNguyễn Phương Thảo TiênLê Nghi Thành NhânVõ Thị Hạnh ThảoNguyễn Thị Thuỳ UyênNguyễn Phan Quỳnh AnhĐào Thị Na
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-28163374310.34071/jmp.2026.3.782Đánh giá cơ sinh học tái tạo bao khớp trên khớp vai sử dụng gân đầu dài cơ nhị đầu
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/804
<p><strong>Đặt</strong><strong> vấn đề</strong>: Rách chóp xoay lớn và rất lớn thường đi kèm với mất vững khớp ổ chảo – cánh tay và di lệch chỏm xương cánh tay lên trên, dẫn đến thoái hóa khớp vai. Kỹ thuật tái tạo bao khớp trên (SCR) sử dụng mảnh ghép tự thân bằng đầu dài gân nhị đầu (LHBT) cho thấy nhiều triển vọng trong việc phục hồi độ vững khớp và giảm mức độ thoái hóa khớp vai. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả cơ sinh học của SCR sử dụng mảnh ghép tự thân LHBT trong việc ngăn ngừa di lệch lên trên của chỏm xương cánh tay trong trường hợp rách chóp xoay lớn đến rất lớn.</p> <p><strong>Phương pháp</strong>: Mười mẫu khớp vai từ năm xác tươi được chuẩn bị để mô phỏng rách chóp xoay lớn và rất lớn bằng cách cắt gân trên gai và gân dưới gai. Lực cần thiết để đẩy chỏm xương cánh tay di lệch lên trên 1,5 cm được đo trước và sau khi thực hiện SCR bằng mảnh ghép tự thân LHBT.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Sau tái tạo bao khớp trên, lực cần thiết để gây di lệch chỏm xương cánh tay lên trên tăng 120,6% ở nhóm rách lớn và 174,5% ở nhóm rách rất lớn so với trước tái tạo (P < 0,05), cho thấy sự cải thiện cơ sinh học có ý nghĩa thống kê.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: SCR sử dụng mảnh ghép tự thân LHBT cải thiện đáng kể khả năng giảm sự di lệch lên trên của chỏm xương cánh tay, là một phương pháp điều trị có hiệu quả đối với rách chóp xoay lớn đến rất lớn. Cần có thêm các nghiên cứu lâm sàng để xác nhận các kết quả này trên người bệnh.</p>Hồ Sỹ NamLê Nghi Thành NhânTrần Hữu DũngTăng Hà Nam Anh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-28163444910.34071/jmp.2026.3.804Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố công thức và quy trình đến đặc tính lý hóa của nano tinidazol bào chế bằng phương pháp nghiền bi
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/862
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Trong các kỹ thuật bào chế nano, kỹ thuật giảm kích thước “top-down” điển hình như nghiền có nhiều tiềm năng ứng dụng trong thực tế vì quy trình sản xuất đơn giản và dễ nâng quy mô. Tuy nhiên, đặc tính của hệ nano thu được phụ thuộc đáng kể vào các yếu tố công thức và thông số quy trình. Do đó, việc khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố này là cần thiết nhằm cải thiện đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân nano tinidazol, một dược chất có độ tan trong nước kém. <strong>Mục tiêu nghiên cứu: </strong>Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố công thức và thông số quy trình nghiền bi đến các đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân nano tinidazol. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Tinidazol, Hydroxypropyl methylcellulose E6, natri lauryl sulfat (NaLS) và một số hóa chất khác được sử dụng. Hỗn dịch nano tinidazol được bào chế bằng phương pháp nghiền bi. Ảnh hưởng của các yếu tố công thức (loại, nồng độ polyme và chất diện hoạt) và các thông số quy trình (thời gian nghiền, khối lượng bi) được đánh giá thông qua kích thước tiểu phân, chỉ số đa phân tán (PDI), hàm lượng dược chất sau ly tâm và một số đặc tính lý hóa khác của hệ nano.<strong> Kết quả: </strong>Các yếu tố công thức và quy trình nghiền bi có ảnh hưởng rõ rệt đến đặc tính của hệ tiểu phân nano tinidazol. Hỗn dịch nano chứa 3,3% tinidazol, sử dụng hỗn hợp chất ổn định gồm 4% HPMC E6 và 0,2% NaLS phân tán trong nước cho kích thước tiểu phân của hệ đạt dưới 400 nm, PDI dưới 0,3. Hỗn dịch nano giúp cải thiện đáng kể độ hòa tan so với hỗn dịch thô. <strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu đã làm rõ ảnh hưởng của các yếu tố công thức và quy trình nghiền bi đến đặc tính lý hóa của hệ tiểu phân nano tinidazol, đồng thời xác định được công thức và điều kiện quy trình phù hợp để thu được hệ nano ổn định, làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo ứng dụng hệ nano vào các dạng bào chế hoàn chỉnh.</p>Lê Thị Thanh NgọcNguyễn Thị Kiều NhiHồ Hoàng NhânNguyễn Ngọc Chiến
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-28163505610.34071/jmp.2026.3.862Ứng dụng kính thực tế ảo trong giảm lo lắng và cải thiện hợp tác khi khởi mê trẻ em
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/941
<p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Lo lắng trước phẫu thuật gây ra nhiều hậu quả về thể chất và tâm lý của trẻ trong giai đoạn chu phẫu. Kính thực tế ảo là một công cụ hứa hẹn trong việc giảm lo lắng và tăng cường sự hợp tác của trẻ mà không cần dùng thuốc. <strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá hiệu quả của kính thực tế ảo trong giảm lo lắng trước phẫu thuật và cải thiện sự hợp tác khi khởi mê trẻ em. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu can thiệp lâm sàng, ngẫu nhiên, có so sánh trên 158 trẻ từ 5-12 tuổi được chia thành hai nhóm: can thiệp mang kính thực tế ảo (VR) và nhóm chứng (NVR). Mức độ lo lắng trước phẫu thuật và hợp tác khi khởi mê được đo bằng thang điểm lo lắng trước phẫu thuật của Yale sửa đổi (mYPAS) và bảng điểm hợp tác khi khởi mê (ICC). Tỷ lệ kích động hậu phẫu được đánh giá qua thang điểm Watcha. <strong>Kết quả:</strong> Biến thiên điểm mYPAS tại thời điểm khởi mê so với nền của nhóm VR là 12,9 [10,0 - 18,3], thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm NVR là 22,5 [17,9 - 39,2]. Tỷ lệ hợp tác tốt khi khởi mê ở trẻ em nhóm VR cao hơn có ý nghĩa so với nhóm NVR (87,8% so với 50,6%). Không có sự khác biệt về tỷ lệ kích động sau phẫu thuật giữa hai nhóm. <strong>Kết luận:</strong> Kính thực tế ảo có hiệu quả giảm lo lắng trước phẫu thuật và cải thiện sự hợp tác khi khởi mê ở trẻ em.</p>Trần Kết ToànPhan ThắngVõ Việt Hà
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-28163576310.34071/jmp.2026.3.941Nghiên cứu xác định liều gây mê qua đường hô hấp bằng isoflurane trên chuột thực nghiệm
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/943
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Gây mê qua đường hô hấp bằng Isoflurane là kỹ thuật phổ biến trong nghiên cứu y sinh nhờ khả năng kiểm soát chính xác độ sâu gây mê, ổn định huyết động và thời gian hồi tỉnh nhanh. Tại Việt Nam, dữ liệu thực nghiệm về liều gây mê tối ưu của Isoflurane trên chuột nhắt trắng còn hạn chế.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định nồng độ gây mê hiệu quả của Isoflurane qua đường hô hấp trên chuột thực nghiệm.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành trên 90 chuột nhắt trắng dòng Swiss. Chuột được phân chia ngẫu nhiên thành 6 nhóm (n=15/ nhóm), gây mê bằng bình bốc hơi chuyên dụng với các nồng độ Isoflurane: 0,5%; 1,0%; 1,5%; 2,0%; 2,5% và 3,0% được đưa qua lưu lượng dòng oxy 1 L/phút. Các chỉ số theo dõi bao gồm: biểu hiện lâm sàng, thời gian mất phản xạ lật ngửa, phân tích Probit để xác định ED<sub>50</sub>, ED<sub>90</sub>, ED<sub>95</sub>.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Ở nồng độ 0,5%, chuột không có biểu hiện kích thích hay hôn mê. Ở mức 1,0%, 100% chuột xuất hiện giai đoạn kích thích nhưng chưa đạt trạng thái hôn mê. Tất cả chuột thí nghiệm đều biểu hiện phản ứng mất phản xạ lật ngửa ở nồng độ 1,5% trở lên. Kết quả phân tích Probit ước tính nồng độ gây mê hiệu quả ED<sub>50</sub>, ED<sub>90</sub>, ED<sub>95</sub> lần lượt khoảng 1,26%, 1,51% và 1,58%.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Nồng độ Isoflurane duy trì ở mức 1,6% là liều gây mê an toàn và hiệu quả, đảm bảo đạt độ mê sâu cho phần lớn chuột nhắt dòng Swiss.</p>Đỗ Thị Hồng DiệpLê Phước Dương
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-28163647110.34071/jmp.2026.3.943Khảo sát mức độ hài lòng của sinh viên về việc thực hành với bệnh nhân chuẩn tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/574
<p><strong>Tóm tắt</strong></p> <p><strong>Đặt vấn đề</strong></p> <p>Tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế, module Thực hành Y khoa (POM) được thiết kế theo hướng giáo dục dựa trên năng lực, giúp sinh viên chuẩn bị tốt hơn cho thực tập lâm sàng thông qua thực hành với bệnh nhân chuẩn và mô hình mô phỏng. Mục tiêu nghiên cứu là đánh giá sự hài lòng của sinh viên y khoa năm 2 với việc thực hành cùng bệnh nhân chuẩn trong module POM, qua đó đề xuất các giải pháp cải thiện chương trình.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong></p> <p>Nghiên cứu khảo sát 318 sinh viên y khoa năm 2 tham gia module POM, sử dụng bộ câu hỏi với thang đo Likert 5 điểm để đánh giá mức độ hài lòng và thu thập ý kiến cải tiến.</p> <p><strong>Kết quả</strong></p> <p>Sinh viên đánh giá cao tính thực tế, sự rõ ràng của tình huống lâm sàng, phản hồi từ bệnh nhân chuẩn. Một số đề xuất cải thiện gồm tăng số lượng bệnh nhân chuẩn, tăng thời gian thực hành, và đa dạng hóa tình huống lâm sàng.</p> <p><strong>Kết luận</strong></p> <p>Bệnh nhân chuẩn giúp nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên.</p>Nguyễn Hoàng MinhĐặng Thị Kim ChiLê Quang MẫnNguyễn Thị Mỹ OanhVĩnh Khánh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-28163727810.34071/jmp.2026.3.574Nghiên cứu sự biểu lộ của protein p53 ở bệnh nhân ung thư dạ dày.
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/628
<p>Ung thư dạ dày là một trong những bệnh lý ác tính thường gặp với tiên lượng còn hạn chế. Bên cạnh việc dựa vào các yếu tố lâm sàng, hình ảnh nội soi và giải phẫu bệnh, sự biểu lộ bất thường của protein p53 có liên quan đến cơ chế sinh ung và tiên lượng bệnh. <strong>Mục tiêu</strong>: (1) Xác định tỷ lệ dương tính với protein p53 ở bệnh nhân ung thư dạ dày. (2) Khảo sát mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng, nội soi, giải phẫu bệnh với sự biểu lộ protein p53. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu trên 53 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư biểu mô dạ dày nguyên phát tại Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Huế từ 05/2023 đến 04/2025. <strong>Kết quả: </strong>Tỷ lệ p53 dương tính ở các bệnh nhân ung thư dạ dày nguyên phát là 37,7% (20/53), cao hơn rõ ở nhóm ≥ 60 tuổi (85,0%) so với < 60 tuổi (15,0%) (p < 0,05), không có sự khác biệt theo giới. Biểu lộ p53 chủ yếu ở khối u vùng hang–môn vị (75,0%), kích thước ≥ 3 cm (70,0%), hình thái loét (55,0%), ung thư biểu mô tuyến ống (70,0%), độ biệt hóa tốt/vừa (40,0%), giai đoạn TNM III–IV (60,0%) (p > 0,05). <strong>Kết luận: </strong>Tỷ lệ biểu lộ p53 dương tính ở bệnh nhân ung thư biểu mô dạ dày nguyên phát là 37,7%. Sự biểu lộ p53 có liên quan với tuổi, không liên quan giới, vị trí, kích thước, hình thái, phân loại mô học, độ biệt hóa và giai đoạn TNM.</p>Lê Thị Thu ThảoNguyễn Văn MãoTrần Văn BảoTrần Thị Nam Phương
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-28163798610.34071/jmp.2026.3.628Khảo sát biến cố đột quỵ não ở bệnh nhân mang van tim cơ học tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hoá
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/669
<div> <p><strong>Tổng quan:</strong><span class="apple-converted-space"> </span>Đột quỵ não là biến chứng nghiêm trọng ở bệnh nhân mang van tim cơ học, có thể do huyết khối gây tắc mạch hoặc do xuất huyết liên quan đến điều trị kháng vitamin K. Việc duy trì INR trong khoảng điều trị an toàn đóng vai trò then chốt nhưng vẫn là một thách thức trong thực hành lâm sàng. <strong>Mục tiêu:</strong><span class="apple-converted-space"> </span>Khảo sát tỉ lệ đột quỵ não ở bệnh nhân mang van cơ học đang sử dụng thuốc kháng vitamin K tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong><span class="apple-converted-space"> </span>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 430 bệnh nhân mang van tim cơ học tại phòng khám ngoại trú và nội trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa trong 22 tháng (01/01/2021 – 31/10/2022). Bệnh nhân được thăm khám lâm sàng, làm xét nghiệm và chẩn đoán xác định đột quỵ não. Ghi nhận tỷ lệ đột quỵ và phân tích mối liên quan với các yếu tố liên quan khác. <strong>Kết quả:</strong><span class="apple-converted-space"> </span>Có 430 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, tuổi trung bình 52,43 ± 9,33; nam giới chiếm 39,1%. Thay van hai lá cơ học chiếm tỷ lệ cao nhất (235; 54,65%), tiếp đến là van hai lá + van động mạch chủ cơ học (131; 30,47%) và van động mạch chủ cơ học (64; 14,88%). Tỷ lệ đột quỵ não: nhồi máu não 4,9%, xuất huyết não 2,6%, và tai biến mạch máu não thoáng qua 6,0%. Bệnh nhân xuất huyết não có INR trên mục tiêu cao gấp 1,74 lần so với nhóm không xuất huyết não (p<0,05). INR không đạt hoặc vượt ngưỡng điều trị không liên quan đến nhồi máu não hay tai biến mạch não thoáng qua (p>0,05). <strong>Kết luận:</strong><span class="apple-converted-space"> </span>Tỷ lệ đột quỵ não ở bệnh nhân mang van cơ học lần lượt là: nhồi máu não 4,9%, xuất huyết não 2,6% và tai biến mạch máu não thoáng qua 6,0%. Xuất huyết não có liên quan có ý nghĩa thống kê với INR trên ngưỡng điều trị.</p> </div>Dương Quang HiệpLê Văn CườngĐỗ Thị Phương AnhLê Thế AnhTrịnh Thị Hoạt
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-28163879410.34071/jmp.2026.3.669Nghiên cứu mối liên quan các hội chứng khí huyết và bệnh thiếu máu của bệnh nhân tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/594
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Hiện nay, tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Huế, bệnh nhân thiếu máu chiếm tỷ lệ đáng kể trong các bệnh nội khoa được điều trị theo Y học cổ truyền. Tuy nhiên, việc phân tích, thống kê một cách hệ thống về tần suất các triệu chứng lâm sàng trong từng hội chứng khí huyết vẫn còn hạn chế. Đồng thời, mối liên quan giữa các hội chứng khí huyết với mức độ thiếu máu trên cận lâm sàng (theo tiêu chuẩn của Y học hiện đại) cũng chưa được khảo sát cụ thể. <strong>Mục tiêu</strong><strong>: </strong>nhằm khảo sát tần suất xuất hiện triệu chứng trong các hội chứng khí huyết ở bệnh nhân thiếu máu tại bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Huế và khảo sát mối liên quan giữa các hội chứng khí huyết với các mức độ thiếu máu. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 150 bệnh nhân tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Huế được chẩn đoán xác định thiếu máu theo tiêu chuẩn của WHO. <strong>Kết quả:</strong> Tỉ lệ xuất hiện các chứng trạng trong hội chứng Khí hư là mệt mỏi vô lực (82,7%), tiếng nói nhỏ (59,3%), thở ngắn, hụt hơi (56,0%), lưỡi bệu (52,7%), tự hãn (24,7%), mạch hư (22,0%); tỉ lệ xuất hiện các chứng trạng trong hội chứng Huyết hư là mặt, mí mắt, môi, móng nhạt (68,7%), mất ngủ (63,3%), hoa mắt chóng mặt (57,3%), chất lưỡi nhạt (52,0%), mạch tế nhược (49,3%), hồi hộp (39,3%), tê tay/chân (32,0%), mạch tế (16,7%); tỉ lệ xuất hiện các chứng trạng trong hội chứng Khí trệ là trướng mãn (19,3%), mạch huyền (7,3%), đau di chuyển không định hình (3,3%); tỉ lệ xuất hiện các chứng trạng trong hội chứng Huyết ứ là môi lưỡi xanh tím/ điểm ứ huyết (6,0%), có điểm đau chói cố định (3,3%), mạch sáp (4,7%). Biểu hiện của hội chứng Khí huyết lưỡng hư chiếm tỉ lệ nhiều nhất với 50,7%. <strong>Kết luận:</strong> Các chứng trạng của hội chứng Khí hư, Huyết hư và Khí huyết lưỡng hư thường gặp ở bệnh nhân thiếu máu, cho thấy sự tương đồng giữa thiếu máu theo Y học hiện đại và các hội chứng Khí huyết theo Y học cổ truyền. Tỷ lệ biểu hiện lâm sàng Khí huyết lưỡng hư ở nhóm thiếu máu vừa cao hơn đáng kể so với nhóm thiếu máu nhẹ, cho thấy mức độ thiếu máu càng nặng thì biểu hiện Khí huyết lưỡng hư càng rõ rệt, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).</p>Lê Thị Minh ThảoNguyễn Thiện PhướcNguyễn Ngọc LêNguyễn Như Quỳnh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-281639510210.34071/jmp.2026.3.594Nghiên cứu docking phân tử các hợp chất ức chế xanthine oxidase của cây Gắm lá nhỏ (Gnetum parvifolium (Warb.) W.C.Cheng)
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/593
<p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Gout là một bệnh rối loạn chuyển hóa phổ biến, có liên quan đến sự tăng cao acid uric máu do hoạt động của enzyme xanthine oxidase. Nghiên cứu trước đây cho thấy dịch chiết của cây gắm lá nhỏ (<em>Gnetum parvifolium</em>) ức chế hiệu quả xanthine oxidase. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tiềm năng ức chế enzyme xanthine oxidase của từng hợp chất và nhóm họp chất của cây Gắm lá nhỏ. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: 58 hợp chất từ cây Gắm lá nhỏ được docking phân tử với enzyme xanthine oxidase (tinh thể 2E1Q). Phần mềm MOE, Sybyl và LeadIT được sử dụng để thực hiện các bước tiền xử lý và docking. Dữ liệu docking phân tích bằng Python và trực quan hóa bằng thư viện Seaborn và Matplotlib. <strong>Kết quả: </strong>38 hợp chất đạt điểm docking dưới –15 kJ/mol, trong đó 11 hợp có điểm số docking nhỏ hơn allopurinol. Các hợp chất nổi bật là acid p-coumaric (-30,94 kJ/mol), trigonellin (-29,80 kJ/mol) và apigenin (-24,48 kJ/mol). Nhóm phenylpropanoid (C6-C3), alkaloid, flavonoid, stilbenoid có nhiều đại diện tiềm năng với ái lực gắn kết mạnh. <strong>Kết luận</strong>: Cây Gắm lá nhỏ chứa nhiều hợp chất có tiềm năng sinh học trong điều trị gout. Nghiên cứu khuyến nghị thực hiện thêm các khảo nghiệm <em>in vitro </em>để xác thực hiệu quả thực tế.</p>Bùi Quốc Dũng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816310311110.34071/jmp.2026.3.593Nghiên cứu mối liên quan giữa p53, Ki-67 với một số đặc điểm giải phẫu bệnh trong ung thư vú ở phụ nữ trẻ.
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/731
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Ung thư vú ở phụ nữ trẻ (< 45 tuổi) thường có đặc điểm sinh học ác tính và tiên lượng kém. Trong số các dấu ấn phân tử, p53 và Ki-67 được quan tâm vì có liên quan đến tiến triển bệnh và đáp ứng điều trị; <strong>Mục tiêu nghiên cứu</strong><strong>:</strong> đánh giá mối liên quan giữa p53 và Ki-67 với một số đặc điểm giải phẫu bệnh trong ung thư vú ở phụ nữ trẻ.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 51 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập, tuổi < 45, được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế giai đoạn 01/2023–06/2025. Các mẫu mô được nhuộm HE và hóa mô miễn dịch (p53, Ki-67, ER, PR, Her2). Phân tích thống kê sử dụng phép Chi-square với ngưỡng ý nghĩa p < 0,05.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tuổi trung bình của bệnh nhân là 38,5; nhóm tuổi 35–40 chiếm tỷ lệ cao nhất (56,9%). Thể mô bệnh học chủ yếu là ung thư biểu mô ống xâm nhập không đặc hiệu (NST, 76,5%). Giai đoạn II–III chiếm gần 80%, trong đó 58,8% có di căn hạch nách. Tỷ lệ p53 dương tính là 41,2%, trong khi Ki-67 cao (≥ 14%) chiếm 82,5%. P53 dương tính có xu hướng tăng ở độ mô học III (62,5%), nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê (p = 0,057). Ki-67 cao có liên quan có ý nghĩa với độ mô học (p < 0,05), nhưng không có mối liên quan với kích thước u, hạch hay giai đoạn bệnh. Đáng chú ý, có mối liên quan có ý nghĩa giữa p53 và Ki-67: 90,5% trường hợp p53 dương tính kèm Ki-67 cao (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Biểu hiện p53 và Ki-67 cao là đặc điểm thường gặp trong ung thư vú ở phụ nữ trẻ, phản ánh sự tăng sinh mạnh và độ ác tính cao của ung thư. Sự phối hợp p53 dương tính và Ki-67 cao góp phần giải thích tiên lượng xấu ở nhóm bệnh nhân này, đồng thời gợi ý giá trị của việc sử dụng kết hợp hai dấu ấn này trong phân tầng nguy cơ và định hướng điều trị cá thể hóa.</p>Võ Thị Hạnh ThảoNguyễn Phương Thảo TiênTrần Anh HùngNguyễn Văn MãoĐặng Công ThuậnTrần Nam ĐôngĐào Thị Na
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816311211810.34071/jmp.2026.3.731Thiết lập quy trình PCR đặc hiệu allele để xác định đa hình -819T>C (rs1800871) của gene IL10)
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/736
<p style="font-weight: 400;"><strong>Đặt vấn đề:</strong> Đa hình -819T>C (rs1800871) trên gene <em>IL10 </em>có liên quan đến nhiều bệnh lý khác nhau, bao gồm sẩy thai, ung thư, đột quỵ, loãng xương... Đề tài nhằm mục tiêu: (1) Thiết lập quy trình kỹ thuật PCR đặc hiệu allele với cặp mồi tự thiết kế để xác định đa hình -819T>C của gene <em>IL10 </em>(rs1800871), (2) Khảo sát sự phân bố các kiểu gene và allele của đa hình <em>IL10</em> rs1800871 ở nhóm người tình nguyện khoẻ mạnh. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Dựa vào trình tự đoạn gene <em>IL10</em> có chứa đa hình rs1800871, thiết kế mồi xuôi có nucleotide đầu 3’ là T và C lần lượt tương ứng cho hai allele của đa hình rs1800871. Kết hợp phần mềm trực tuyến PrimerDigital để thiết kế mồi ngược. Các mẫu chứng dương được xác định dựa vào giải trình tự Sanger. Thiết lập các điều kiện PCR và áp dụng cho 100 người tình nguyện, có sức khoẻ bình thường, gồm 33 nam và 67 nữ. <strong>Kết quả:</strong> Thiết lập thành công quy trình PCR đặc hiệu allele để xác định đa hình -819T>C (rs1800871) của gene <em>IL10. </em>Tỷ lệ kiểu gene -819TT, -819TC và -819CC lần lượt là 52%, 42% và 6%, tỷ lệ allele -819T và -819C lần lượt là 73% và 27%.<strong> Kết luận: </strong>Đã thiết lập thành công kỹ thuật PCR đặc hiệu allele để xác định đa hình -819T>C trên gene <em>IL10</em>. Bước đầu xác định được tỷ lệ các kiểu gene và allele tại vị trí đa hình -819T>C ở nhóm người tình nguyện khoẻ mạnh.</p>Hà Thị Minh ThiNguyễn Thị Mai NgânĐinh Hồng Kim CươngLê Thị Thanh Nhàn
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816311912510.34071/jmp.2026.3.736Hiệu quả điều trị bí tiểu sau phẫu thuật vùng tầng sinh môn dưới gây tê tủy sống bằng phương pháp chườm ấm
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/739
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Bệnh lý vùng tầng sinh môn là bệnh phổ biến trên toàn thế giới, điều trị ngoại khoa với phương pháp vô cảm thường dùng là gây tê tủy sống. Bệnh lý vùng này thường gây bí tiểu sau phẫu thuật, kết hợp với gây tê tủy sống thì tỷ lệ bí tiểu càng tăng lên, điều trị bằng chườm ấm, thuốc, đặt sonde tiểu. <strong>Mục tiêu của nghiên cứu: </strong>Đánh giá hiệu quả điều trị bí tiểu sau phẫu thuật tầng sinh môn dưới gây tê tủy sống bằng phương pháp chườm ấm. Nghiên cứu được thực hiện trên 98 bệnh nhân phẫu thuật tầng sinh môn có gây tê tủy sống, khi bệnh nhân có triệu chứng bí tiểu sẽ được chườm ấm vùng hạ vị trong 2-3 giờ, trong thời gian chườm ấm nếu đau tức tiểu không chịu được thì tiến hành can thiệp biện pháp khác cho bệnh nhân (tiêm thuốc neostigmin, đặt sonde tiểu). <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ bí tiểu sau phẫu thuật rất cao với 48,9%. Những yếu tố liên quan đến bí tiểu sau phẫu thuật bao gồm: giới tính nam, thời gian mổ > 50 phút, truyền dịch trọng mổ > 700 ml, có phối hợp morphin khoang dưới nhện. Hiệu quả điều trị bí tiểu sau phẫu thuật bằng phương pháp chườm ấm chiếm tỷ lệ thành công cao với 60,4%. Trong các thành công với phương pháp chườm ấm ghi nhận thời gian đi tiểu lần đầu tiên trung bình là 1,5 giờ, với thời gian ngắn nhất là 0,33 giờ và thời gian dài nhất là 3,33 giờ. Thời gian đi tiểu lại như bình thường là 3,33 giờ, ngắn nhất là 0,33 giờ và dài nhất là 13 giờ. <strong>Kết luận: </strong>Chườm ấm là biện pháp điều trị bí tiểu sau phẫu thuật hiệu quả và ít xâm lấn trên bệnh nhân.</p>Phạm Thị Minh ThưThi Thuy Nga Bùi Thị Thúy NgaLê Văn LongNguyễn Văn VĩnhTrần Thị Ngọc LinhThái Thị Thanh ThủyTống Chiêu QuânNguyễn Anh QuânNguyễn Minh HiếuBùi Hoàng Ngọc Diệp
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816312613210.34071/jmp.2026.3.739Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố liên quan của trẻ từ 2 tháng đến dưới 24 tháng tuổi tại huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng năm 2022
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/781
<p style="font-weight: 400;"><strong>Đặt vấn đề</strong>: Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong tiến trình xóa đói giảm nghèo, hạ thấp tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, tuy nhiên mức độ giảm không đồng đều giữa các vùng miền. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ từ 2 tháng đến dưới 24 tháng tuổi tại huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng năm 2022.</p> <p style="font-weight: 400;"><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 600 cặp bà mẹ và trẻ từ 2 tháng đến dưới 24 tháng tuổi tại Đam Rông, Lâm Đồng. Thông tin thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá theo chỉ số cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao.</p> <p style="font-weight: 400;"><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ trẻ có suy dinh dưỡng là 31,7%. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng nhẹ cân, thấp còi, gầy còm lần lượt là 9,7%; 22,2% và 10,7%. Tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì theo chỉ số cân nặng theo chiều cao là 6,1%. Trẻ em nam; dân tộc thiểu số; mẹ có học vấn thấp, cân nặng lúc sinh thấp; thực hành nuôi dưỡng chưa đạt và thực hành chăm sóc chưa đạt lần lượt có nguycơ SDD cao hơn gấp 2,50; 1,94; 2,15; 3,03; 2,34 và 2,63 so với các nhóm còn lại.</p> <p style="font-weight: 400;"><strong>Kết luận</strong><strong>: </strong>Suy dinh dưỡng vẫn phổ biến ở trẻ từ 2 đến dưới 24 tháng tuổi tại huyện Đam Rông, cần có kế hoạch và tiếp tục triển khai các chương trình y tế nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ em, chú trọng đến nhóm trẻ em bị thấp còi và nhóm trẻ em người dân tộc thiểu số.</p>Phan Thanh ThànhHoàng Thị Bạch Yến
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816313314010.34071/jmp.2026.3.781Khảo sát nồng độ galectin-3 huyết thanh và mối liên quan với tình trạng vôi hóa mạch máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/802
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Hiện nay, tỉ lệ mắc bệnh thận mạn ngày càng tăng, và gây nhiều gánh nặng lên hệ thống y tế. Galectin-3 huyết thanh là một trong những chất chỉ điểm sinh học mới giúp chẩn đoán và tiên lượng trong bệnh thận mạn. Sự gia tăng nồng độ galectin-3 có liên quan đến xơ hóa thận, nguy cơ suy giảm chức năng thận nhanh, bệnh thận mạn mới mắc và suy thận tiến triển, cũng như các biến cố tim mạch. Vôi hóa mạch máu là một yếu tố nguy cơ tim mạch đặc trưng của bệnh thận mạn. Ở Việt Nam hiện nay chưa có bất kì nghiên cứu nào liên quan đến galectin-3 ở bệnh thận mạn các giai đoạn.<br /><strong>Mục tiêu:</strong> Khảo sát giá trị nồng độ galectin-3 huyết thanh ở bệnh nhân bệnh thận mạn các giai đoạn; Đánh giá mối liên quan giữa galectin-3 huyết thanh và tình trạng vôi hóa mạch máu ở đối tượng nghiên cứu. <br /><strong>Đối tượng, phương pháp nghiên cứu:</strong> cắt ngang mô tả, trên 172 bệnh nhân bệnh thận mạn tại Bệnh viện Trung ương Huế từ 10/2024 - 8/2025. Galectin-3 huyết thanh được thực hiện bằng phương pháp miễn dịch vi hạt hóa phát quang trên máy Alitiny tại Khoa Sinh hoá - Bệnh viện Trung ương Huế. <br /><strong>Kết quả:</strong> Nồng độ galectin-3 huyết thanh trung bình là 53,97 ± 25,68 ng/mL, tăng dần từ 28,87 ± 8,02 ng/mL (G3), 44,77 ± 17,07 ng/mL(G4), 56,69 ± 20,66 ng/mL (G5) và 72,75 ± 24,86 ng/mL (LMCK). Vôi hóa động mạch chủ bụng xảy ra ở 47,10%. Galectin-3 huyết thanh tương quan thuận yếu với mức độ Vôi hóa động mạch chủ bụng (r = 0,212), chưa thấy mối tương quan với IMT động mạch cảnh. <br /><strong>Kết luận</strong>: Có sự tăng đáng kể nồng độ galectin-3 huyết thanh ở bệnh thận mạn, có sự tương quan giữa galectin-3 huyết thanh và sự vôi hóa động mạch chủ.</p>Đinh Thị Minh HảoVõ Tam
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816314114710.34071/jmp.2026.3.802Nhận xét giá trị chẩn đoán của nội soi buồng tử cung và sinh thiết niêm mạc tử cung trong chẩn đoán viêm niêm mạc tử cung mạn tính
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/930
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Viêm nội mạc tử cung mạn tính (VNMTCMT) là một tình trạng viêm dai dẳng của lớp niêm mạc tử cung, tỷ lệ mắc cao ở phụ nữ vô sinh. Tiêu chuẩn trong chẩn đoán vẫn chưa thống nhất. <strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> đánh giá tỷ lệ VNMTCMT, đặc điểm của các bệnh nhân VNMTCMT, nhận xét giá trị chẩn đoán VNMTCMT qua nội soi buồng tử cung (BTC) so với sinh thiết NMTC.<strong> Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu theo dõi dọc, tiến cứu thực hiện trên 103 bệnh nhân làm thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng, từ thánh 8/2024 đến tháng 8/2025. Tiêu chuẩn chẩn đoán VNMTCMT: (1) tiêu chuẩn mô bệnh học ≥5 CD138/10 HPF; (2) tiêu chuẩn nội soi BTC: Delphi. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ mắc VNMTCMT 37,8% (39/103). Tổn thương BTC trong VNMTCMT hay gặp nhất: xung huyết (37,7%) và micro polyp (43,1%), tuy nhiên không đặc hiệu; xung huyết lan toả ở nhóm bệnh cao hơn so với nhóm bình thường (p<0,05). Tỷ lệ chẩn đoán VNMTCMT theo nội soi BTC và mô bệnh học: Se 85%, Sp 22%, PPV: 40%, NPV: 70%. Giá trị tiên lượng chẩn đoán VNMTCMT của nội soi BTC so với mô bệnh học ở mức trung bình. Các yếu tố ảnh hưởng tới nguy cơ VNMTCMT: chưa ghi nhận yếu tố nguy cơ rõ rệt. <strong>Kết luận:</strong> tỷ lệ mắc VNMTCMT 37,8%; giá trị chẩn đoán của nội soi BTC ở mức trung bình. </p>Vũ Thị Minh PhươngVũ Văn TâmLưu Vũ DũngCao Ngọc Thành
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816314815510.34071/jmp.2026.3.930Mối liên quan giữa non-HDL-C và mức độ sang thương động mạch vành ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ có tắc nghẽn
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1231
<p>Mục tiêu: Xác định mối liên quan giữa nồng độ non-HDL-C và mức độ sang thương động mạch vành (ĐMV), đồng thời đánh giá giá trị của non-HDL-C trong dự báo mức độ nặng bệnh ĐMV ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ (BTTMCB) có tắc nghẽn. <br>Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên 226 bệnh nhân BTTMCB có tắc nghẽn trên chụp cắt lớp vi tính ĐMV. Tắc nghẽn ĐMV được xác định khi hẹp ≥ 50% đường kính lòng ít nhất một nhánh ĐMV thượng tâm mạc. Mức độ sang thương ĐMV được đánh giá bằng thang điểm Gensini và chia thành ba mức độ theo tam phân vị: nhẹ (≤ 32 điểm), trung bình (> 32 và ≤ 56 điểm) và nặng (> 56 điểm). Xét nghiệm lipid máu thực hiện trong vòng 24 giờ sau khi nhập viện. <br>Kết quả: Nồng độ non-HDL-C tăng dần theo ba mức độ sang thương ĐMV, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Phân tích tương quan Spearman cho thấy non-HDL-C có tương quan thuận mức độ trung bình với điểm Gensini (rho = 0,426; p < 0,001) và là chỉ số lipid có hệ số tương quan cao nhất. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy non-HDL-C là yếu tố liên quan độc lập với tổn thương ĐMV trung bình‑nặng (odds ratio, OR = 1,376; 95% khoảng tin cậy [KTC] 1,060–1,786; p = 0,002), cùng với đái tháo đường (OR = 3,032; 95% KTC: 1,552–5,922; p = 0,001) và đau thắt ngực điển hình (OR = 2,402; 95% KTC: 1,241–4,651; p = 0,009). Phân tích đường cong ROC cho thấy non‑HDL‑C dự báo tổn thương ĐMV nặng với diện tích dưới đường cong (AUC) 0,719 (95% KTC: 0,653–0,785; p < 0,001) tại điểm cắt > 2,62 mmol/L (độ nhạy 91,8%, độ đặc hiệu 43,8%). Đối với tổn thương ĐMV trung bình‑nặng, AUC của non-HDL-C là 0,685 (95% KTC 0,608–0,761; p<0,001) với điểm cắt > 2,47 mmol/L, độ nhạy 83,8%, độ đặc hiệu 51,3%.<br>Kết luận: Non-HDL-C có mối tương quan thuận mức độ trung bình với mức độ sang thương ĐMV ở bệnh nhân BTTMCB có tắc nghẽn và là yếu tố liên quan độc lập với tổn thương ĐMV trung bình‑nặng. Non-HDL-C có thể hỗ trợ đánh giá mức độ nặng bệnh ĐMV ở nhóm bệnh nhân này.</p>Hoàng Huy TrườngĐặng Quang Minh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816315616510.34071/jmp.2026.3.1231Khảo sát biến chứng thần kinh ngoại biên qua thăm dò điện cơ đồ trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1230
<p>Đặt vấn đề: Bệnh thần kinh ngoại biên đái tháo đường là một biến chứng phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường lâu năm. Điện cơ đồ là tiêu chuẩn vàng chẩn đoán bệnh thần kinh ngoại biên đái tháo đường. <br>Mục tiêu: khảo sát đặc điểm dẫn truyền thần kinh, tỷ lệ bệnh thần kinh ngoại biên bằng điện cơ đồ và xác định mối liên quan giữa bệnh thần kinh ngoại biên với các yếu tố nguy cơ. <br>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 215 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 đang điều trị tại khoa Nội Tiết, Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức. Sử dụng máy đo điện cơ Nemus 2. <br>Kết quả: Tỷ lệ bệnh thần kinh ngoại biên bằng điện cơ đồ chiếm 56,7%. Bệnh thần kinh ngoại biên có liên quan tuổi đời (OR: 1,06; KTC 95%: 1,03 - 1,09), thời gian phát hiện đái tháo đường (OR: 1,15; KTC 95%: 1,09 - 1,2), điều trị metformin (OR: 2,28; KTC 95%: 1,31 - 3,98), tăng huyết áp (OR: 3,22, KTC 95%: 1,76 - 5,9), tăng cholesterol (OR: 0,44; KTC 95%: 0,25 - 0,77) và tăng Triglyceride (OR: 0,38, KTC 95%: 0,2 - 0,72); đều với p < 0,05. <br>Kết luận: bệnh thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 qua khảo sát điện cơ đồ chiếm tỷ lệ 56,7%. Tuổi đời tăng, thời gian phát hiện đái tháo đường kéo dài, điều trị Metformin, tăng huyết áp, tăng cholesterol và tăng Triglyceride máu là các yếu tố liên quan bệnh thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, trong số đó tuổi đời và thời gian phát hiện đái tháo đường là 2 yếu tố dự báo độc lập bệnh thần kinh ngoại biên trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2, cụ thể khi tuổi tăng thêm mỗi năm, nguy cơ mắc bệnh thần kinh ngoại biên tăng khoảng 3% (KTC 95%: 1,0-1,06; p = 0,038).</p>Trương Bảo Anh MinhNguyễn Hải Thủy
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816316617310.34071/jmp.2026.3.1230Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính gãy xương hàm trên
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1232
<p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Chấn thương hàm mặt nói chung, gãy xương hàm trên nói riêng xu hướng ngày càng gia tăng do tai nạn giao thông. Do hình thái tổn thương ngày càng trở nên đa dạng, ngày nay rất ít gặp gãy xương hàm trên đơn thuần và thường có gãy phối hợp xương hàm trên với các khối xương sọ mặt liên quan. Chụp cắt lớp vi tính ưu việt khi phát hiện đầy đủ các đường gãy, các hướng di lệch của xương, các tổn thương sọ não, phần mềm của tầng mặt trên và trong hốc mắt.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong> 1. Mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính gãy xương hàm trên. 2. Khảo sát các tổn thương chấn thương phối hợp với gãy xương hàm trên.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang gồm 123 bệnh nhân gãy xương hàm trên tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2023 đến tháng 8/2024.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Độ tuổi trung bình là 35,54 ± 15,60; nam (75%) nhiều hơn nữ. Gãy xương vùng đầu mặt phối hợp gặp ở 94,3% bệnh nhân trong đó gãy các thành xoang ưu thế với 85,4%; gần một nửa bệnh nhân có chấn thương não phối hợp (43,9%) trong đó xuất huyết não lên đến 22,8%; chấn thương nhãn cầu, chấn thương ngực, bụng và gãy xương chi phối hợp ít gặp hơn.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Gãy xương hàm trên một phần hay gặp là gãy thành trước xoang hàm, loại gãy toàn bộ hay gặp là gãy ngang Le Fort II (72,7%). Ít khi gặp gãy xương hàm trên đơn thuần mà thường có tổn thương các cơ quan khác phối hợp. Chụp CLVT sọ mặt trên bệnh nhân gãy xương hàm trên là cần thiết, đặc biệt ở những bệnh nhân có kế hoạch phẫu thuật.</p>Nguyễn Thị HiềnLê Trọng KhoanNguyễn Nguyễn Thái BảoNguyễn Thanh Thảo
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816317518010.34071/jmp.2026.3.1232Đánh giá tình trạng ăn mòn răng và các yếu tố liên quan ở sinh viên Răng Hàm Mặt Trường đại học Y - Dược, Đại Học Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1233
<p><strong>Đặ</strong><strong>t vấn đề:</strong> Ăn mòn răng là sự mất mô cứng của răng theo cơ chế hóa học. Phát hiện sớm tình trạng ăn mòn răng ở người trẻ và nhận biết các yếu tố nguy cơ là vấn đề quan trọng.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Xác định tỷ lệ ăn mòn răng, khảo sát mối liên quan giữa ăn mòn răng với một số thói quen ở sinh viên Răng Hàm Mặt, Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế.</p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 170 sinh viên. Sinh viên điền phiếu khảo sát về thói quen vệ sinh răng miệng và thói quen ăn uống; sau đó được khám để ghi nhận mức độ ăn mòn răng theo chỉ số BEWE.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ sinh viên có tình trạng ăn mòn răng là 47,6%; trong đó, ăn mòn răng mức độ 1 là 41,2%, ăn mòn răng mức độ 2 là 6,4%, không có tình trạng ăn mòn răng mức độ 3. Vùng răng sau hàm dưới có tỷ lệ ăn mòn răng lớn nhất (53,1% - 54,3%). Có mối liên quan giữa thói quen sử dụng nước ngọt có gas và ăn mòn răng (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Ăn mòn răng là một vấn đề phổ biến. Việc triển khai các chương trình phòng ngừa và tư vấn về ăn mòn răng là điều cần thiết.</p> <p> </p>Lê Nguyễn Thùy DươngTrần Bá CươngTrần Xuân Phương
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816318118710.34071/jmp.2026.3.1233Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị các vết thương phần mềm nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1234
<p><strong>Đặ</strong><strong>t vấn đề:</strong> Vết thương phần mềm nhiễm khuẩn (VTPMNK) là một vấn đề y tế nghiêm trọng, góp phần làm gia tăng gánh nặng điều trị do tình trạng kháng kháng sinh ngày càng phổ biến.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị vết thương phần mềm nhiễm khuẩn.</p> <p><strong>Đố</strong><strong>i tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả tiến cứu không đối chứng trên 91 bệnh nhân với 96 VTPMNK.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Chấn thương là nguyên nhân thường gặp nhất (64,6%), kế đến là loét mạn tính (18,8%). VTPMNK ở chi dưới chiếm tỷ lệ cao nhất (70,9%). Diện tích VTPMNK trung bình là 11,4 ± 19,6 cm². Có 26,0% trường hợp nhiễm vi khuẩn đa kháng, trong đó MRSA chiếm khoảng một nửa và <em>E. coli</em> sinh men ESBL chiếm khoảng 1/4. Điều trị kháng sinh ban đầu theo kinh nghiệm phù hợp với kháng sinh đồ chiếm 58,7%. Phẫu thuật cắt lọc súc rửa vết thương là phương pháp điều trị tại chỗ được sử dụng nhiều nhất (78,1%). Thời gian kiểm soát nhiễm khuẩn trung bình là 15,3 ± 22,5 ngày. Tỷ lệ tự liền vết thương là 53,1%, khâu đóng vết thương chiếm 18,8%. Điểm SF-36 sau 1 tháng cải thiện có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Điều trị phối hợp nhiều phương pháp giúp kiểm soát nhiễm khuẩn hiệu quả, thúc đẩy lành thương và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.</p> <p> </p>Trần Nhật TiếnNguyễn Vĩnh Kiên
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816318819310.34071/jmp.2026.3.1234Nghiên cứu giá trị chẩn đoán ung thư tụy của đột biến các codon 12/13 và 61 của gene KRAS trong ctDNA phối hợp với một số chỉ điểm sinh học truyền thống
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/993
<p style="font-weight: 400;"><strong>Đặt vấn đề:</strong> Ung thư tụy là một bệnh lý khó chẩn đoán xác định do hạn chế trong việc tiếp cận khối u để lấy mẫu mô. PCR kỹ thuật số vi giọt (ddPCR) với khả năng phát hiện các DNA khối u lưu hành trong máu (ctDNA) cho thấy tiềm năng chẩn đoán ung thư tụy mà không cần sinh thiết. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài với hai mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ đột biến các codon 12/13 và 61 của gene <em>KRAS</em> trong ctDNA ở bệnh nhân ung thư tụy và bệnh lý tụy lành tính bằng kỹ thuật droplet digital PCR, (2) Khảo sát giá trị chẩn đoán ung thư tụy của đột biến <em>KRAS</em> trong ctDNA phối hợp với các chỉ điểm sinh học truyền thống (CA 19-9, CEA). <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu được thực hiện trên 99 bệnh nhân gồm các nhóm ung thư tụy, u nang tụy lành tính và viêm tụy mạn, xác định <sup>mut</sup><em>KRAS</em> ctDNA bằng kỹ thuật ddPCR. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ có đột biến <em>KRAS </em>trong ctDNA huyết tương ở các nhóm lần lượt là 72,5%, 25,0% và 7,1%. Đột biến tại codon 12/13 chiếm 70,6%, đột biến tại codon 61 chỉ chiếm tỷ lệ 3,9% trong nhóm ung thư tụy. MAF <sup>mut</sup><em>KRAS</em>ctDNA phối hợp CA 19-9 có giá trị chẩn đoán ung thư tụy tốt hơn CA 19-9 đơn độc với AUC = 0,883, p = 0,0333. <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ đột biến <em>KRAS </em>trong ctDNA huyết tương ở nhóm bệnh nhân ung thư tụy cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh tụy lành tính, chủ yếu tại codon 12/13. Giá trị chẩn đoán ung thư tụy của MAF <sup>mut</sup><em>KRAS</em> ctDNA tương đương CA 19-9, nhưng khi phối hợp hai chỉ điểm này với nhau lại tốt hơn so với khi chỉ dùng CA 19-9 đơn độc.</p>Trương Xuân LongNgô Thị Diệu HươngLê Phan Tưởng QuỳnhVĩnh KhánhNguyễn Thị Mai NgânLê Tuấn LinhNguyễn Thị Thanh ThỏaPhạm Anh VũHồ Hữu ThiệnĐặng Ngọc HùngNguyễn Văn CầuĐặng Công ThuậnPhạm Nguyên CườngHà Thị Minh Thi
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816319420210.34071/jmp.2026.3.993So sánh nghiệm pháp thở tự nhiên có hỗ trợ áp lực và ống chữ T trong cai thở máy xâm nhập: thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/947
<p>Đặt vấn đề: Nghiệm pháp thở tự nhiên (Spontaneous Breathing Trial - SBT) là tiêu chuẩn vàng để đánh giá khả năng cai máy thở. Hai kỹ thuật SBT phổ biến hiện nay gồm thở ống chữ T và thở tự nhiên có hỗ trợ áp lực (Pressure Support Ventilation - PSV). Mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh tỉ lệ vượt qua SBT, rút nội khí quản và cai thở máy thành công giữa hai phương pháp này ở bệnh nhân thở máy xâm nhập. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 133 bệnh nhân đủ điều kiện thực hiện SBT, được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm: SBT bằng ống chữ T (n=67) và SBT bằng PSV (n=66). Các biến số đánh giá gồm: đặc điểm lâm sàng ban đầu, tỉ lệ vượt qua SBT, tỉ lệ rút nội khí quản thành công và nguyên nhân thất bại. Kết quả: Không ghi nhận khác biệt có ý nghĩa giữa hai nhóm về tuổi, giới, BMI, thời gian thở máy trước SBT, điểm Glasgow hay các chỉ số sinh tồn trước thử nghiệm. Tỉ lệ vượt qua SBT của nhóm PSV cao hơn (97,0% so với 85,1%; p < 0,05), tỉ lệ rút nội khí quản thành công tương đương (PSV 89,1%; ống chữ T 84,2%; p > 0,05) và tỉ lệ cai thở máy thành công cao hơn (86,4% so với 71,6%; p < 0,05) có ý nghĩa so với nhóm ống chữ T. Kết luận: Thở tự nhiên có hỗ trợ áp lực cho hiệu quả vượt trội hơn so với ống chữ T về tỉ lệ vượt qua thử nghiệm tự thở và tỉ lệ cai thở máy thành công. Kết quả gợi ý rằng thở tự nhiên có hỗ trợ áp lực là lựa chọn ưu thế trong chuẩn bị rút nội khí quản ở bệnh nhân thở máy xâm nhập.</p> <p>Từ khóa: nghiệm pháp thở tự nhiên; áp lực hỗ trợ; cai thở máy; rút nội khí quản</p> <p> </p> <p> </p>Bùi Văn DungNguyễn Văn MinhLê Đức Nhân
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816320320910.34071/jmp.2026.3.947Can thiệp nội mạch điều trị ho máu do giả phình động mạch phổi: nghiên cứu hồi cứu 13 trường hợp
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/663
<p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá tính an toàn và hiệu quả của can thiệp nội mạch trong điều trị ho máu do giả phình động mạch phổi (GĐMP).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> Nghiên cứu hồi cứu trên 13 bệnh nhân bị ho máu có GĐMP được điều trị bằng phương pháp can thiệp nội mạch tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 4/2023 đến tháng 12/2024. Các dữ liệu được thu thập bao gồm đặc điểm lâm sàng, kích thước và vị trí ổ giả phình, nguyên nhân nền, vật liệu can thiệp và kết cục lâm sàng.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Trong số 13 bệnh nhân (8 nam, 5 nữ; tuổi trung bình 58,2), đường kính trung bình của ổ giả phình là 14,6 mm. 11 bệnh nhân (84,6%) kết hợp nút động mạch phế quản và/hoặc nhánh động mạch liên sườn. Nguyên nhân tổn thương: lao (n =7), áp xe nấm (n=3), áp xe vi khuẩn (n=2), sau sinh thiết (n=1). Các phương pháp can thiệp bao gồm: nút coil đơn thuần (n=4), coil kết hợp keo sinh học (n=6), plug đơn thuần (n=2), và plug kết hợp keo sinh học (n=1). Tỷ lệ thành công kỹ thuật đạt 100%. Có 1 bệnh nhân (7,7%) tái phát ho máu trong tuần đầu được phẫu thuật cắt thùy phổi. 2 bệnh nhân (15,4%) tử vong trong vòng 30 ngày do bệnh nền tiến triển mà không có chảy máu tái phát.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Can thiệp nội mạch là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị ho máu do giả phình động mạch phổi. Phát hiện và điều trị sớm đóng vai trò quan trọng trong cải thiện tiên lượng bệnh nhân.</p>Thân Văn SỹLê Thanh DũngĐào Xuân HảiVũ Hoài Linh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816321822310.34071/jmp.2026.3.663Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim cấp
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/724
<p><strong>TÓM TẮT</strong></p> <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Suy tim cấp là cấp cứu tim mạch thường gặp, có tỷ lệ tử vong và tái nhập viện cao, gây gánh nặng điều trị<strong>. Mục tiêu nghiên cứu</strong>: Xác định các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim cấp nhập viện, đồng thời so sánh nhóm suy tim cấp trên nền suy tim mạn với nhóm suy tim cấp lần đầu. <strong>Phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu cắt ngang phân tích này chọn những bệnh nhân có chẩn đoán suy tim cấp hay đợt mất bù cấp suy tim mạn tại bệnh viện Thống Nhất có thời gian nằm viện từ tháng 1/2024 đến tháng 6/2024. Các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng được ghi nhận từ hồ sơ bệnh án và được xử lý bằng phần mềm Stata 15.0. <strong>Kết quả</strong>: Nghiên cứu 456 bệnh nhân, uổi trung bình 70,7 ± 13,5; nam 48,2%. Bệnh kèm: tăng huyết áp 87,9%, rối loạn lipid máu 71,7%, đái tháo đường 44,5%, rung nhĩ 25%. Triệu chứng chính: khó thở 95,0%, ran phổi 69,3%. Thể huyết động ẩm–ẩm 68,6%, ấm–khô 28,9%. Thể lâm sàng: đợt mất bù suy tim 89,7%, phù phổi cấp 8,3%, sốc tim 0,7%. Nguyên nhân và yếu tố thúc đẩy: nhóm CHAMPIT 68,2%, trong đó hội chứng vành cấp 42,5%, nhiễm trùng 28,5%. Cận lâm sàng: NT-proBNP 5113 [2276 – 11537]pg/mL, EF 50% [35–63], BUN 7.5 [5.4 – 11.6]mmol/L, creatinine 109 [84 – 148.8] µmol/L, thâm nhiễm phế trường 53,5%, hở van hai lá ≥ trung bình 42,3%. So với nhóm lần đầu, nhóm suy tim mạn cao tuổi hơn (p=0,028), nhiều bệnh kèm, NT-proBNP cao hơn, EF thấp hơn, BUN và creatinine cao hơn (đều p<0,001). <strong>Kết luận:</strong> Bệnh nhân suy tim cấp thường lớn tuổi, có nhiều bệnh kèm và rối loạn cận lâm sàng quan trọng như tăng NT-proBNP, giảm EF, suy thận. So với suy tim cấp lần đầu, suy tim cấp trên nền suy tim mạn có biểu hiện nặng và các rối loạn này rõ hơn.<strong>Từ khóa</strong>: suy tim cấp, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng.</p> <p> </p>Trần Tấn ĐạtLê Thị Bích ThuậnĐoàn Chí Thắng
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816310.34071/jmp.2026.3.724Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của thiếu máu thiếu sắt ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1246
<p><strong>Đặt v</strong><strong>ấn</strong><strong> đề: </strong>Thiếu máu thiếu sắt là một vấn đề sức khỏe phổ biến, ảnh hưởng đến hàng triệu trẻ em trên toàn cầu, đặc biệt ở trẻ dưới 5 tuổi tại các nước đang phát triển (Tổ chức Y tế thế giới 2016). Việc phát hiện và điều trị sớm rất quan trọng.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em từ 6 tháng đến 5 tuổi.</p> <p><strong>Đối t</strong><strong>ượng và</strong><strong> ph</strong><strong>ương pháp</strong><strong> nghiên</strong><strong> c</strong><strong>ứu</strong><strong>: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 109 trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt tại Trung tâm Nhi - Bệnh viện Trung Ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, từ tháng 03/2024 đến tháng 10/2024. Phỏng vấn mẹ, thăm khám trực tiếp trẻ dựa trên bộ câu hỏi soạn sẵn và thu thập kết quả tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, sắt huyết thanh và ferritin huyết thanh. Kết quả nghiên cứu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 27.</p> <p><strong>Kết quả:</strong> Mô hình hồi quy logistic đơn biến cho thấy các yếu tố có liên quan với mức độ nặng của thiếu máu thiếu sắt bao gồm: kinh tế gia đình cận nghèo - nghèo (OR = 4,77; 95% CI 1,79 - 12,75; p < 0,05); tiền sử sinh non (OR = 3,98; 95% CI 1,18 - 13,35; p < 0,05); cân nặng lúc sinh thấp (OR = 4,50; 95% CI 1,18 - 17,20; p < 0,05); tiền sử tiêu chảy kéo dài (OR = 4,71; 95% CI 1,35 - 16,37; p < 0,05); tiền sử viêm phổi (OR = 4,38; 95% CI 1,53 - 12,52; p < 0,05); suy dinh dưỡng (OR = 4,56; 95% CI 1,52 - 13,73; p < 0,05). Phân tích đa biến cho thấy chỉ có kinh tế gia đình, tiền sử viêm phổi, tiền sử tiêu chảy kéo dài là các yếu tố liên quan độc lập.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Các yếu tố liên quan đến mức độ nặng của thiếu máu thiếu sắt là kinh tế cận nghèo – nghèo, tiền sử viêm phổi và tiền sử tiêu chảy kéo dài.</p> <p> </p>Nguyễn Hữu Châu ĐứcNguyễn Linh GiangNguyễn Thị Bình MinhLê Thanh TuyếnVõ Thị HiênHồ Vũ Duy ThiênRChăm Hờ Linh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816322523110.34071/jmp.2026.3.1246Đặt hút áp lực âm qua nội soi điều trị rò miệng nối trực tràng sau phẫu thuật nội soi cắt mạc treo trực tràng đặc hiệu theo u: báo cáo ca lâm sàng và tổng hợp y văn
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/711
<p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Rò miệng nối là một trong những biến chứng thường gặp sau phẫu thuật cắt trực tràng có bảo tồn cơ thắt. Điều trị rò miệng nối vẫn đang là một thách thức đối với các phẫu thuật viên. Đặt hút áp lực âm qua nội soi (Endoscopic Vacuum Therapy-EVT) mang lại hiệu quả cao và đang được ứng dụng trên thế giới trong thời gian gần đây. Tại Việt Nam, chưa có nhiều trung tâm triển khai kỹ thuật này.<strong> Báo cáo ca lâm sàng:</strong> Chúng tôi báo cáo trường hợp rò miệng nối trực tràng ở bệnh nhân ung thư trực tràng cao sau phẫu thuật nội soi cắt mạc treo trực tràng đặc hiệu theo u được điều trị thành công bằng kỹ thuật EVT tại Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng. <strong>Kết luận:</strong> EVT mang lại hiệu quả cao trong điều trị rò miệng nối trực tràng, đã được ứng dụng trên thế giới. Kết quả thực hiện thành công ca lâm sàng cho thấy kỹ thuật này an toàn, khả thi và hiệu quả khi thực hiện tại Việt Nam.</p>Nguyễn Ngọc SơnPhạm Anh Vũ
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816323223810.34071/jmp.2026.3.711Ứng dụng giải phẫu vi phẫu và hình ảnh số trong cắt bỏ tối đa an toàn u nguyên bào thần kinh đệm thái dương-chẩm trong điều kiện hạn chế nguồn lực: Báo cáo ca lâm sàng
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/719
<p>U thần kinh đệm vùng thái dương – chẩm là thách thức phẫu thuật do nằm gần nhiều vùng chức năng quan trọng như vỏ thị giác nguyên phát và dải thị giác. Ở Việt Nam, các phương tiện như định vị trong mổ và mapping vỏ não còn hạn chế, phẫu thuật viên phải dựa vào kiến thức giải phẫu vi mô. Chúng tôi báo cáo bệnh nhân nam 65 tuổi, thuận tay phải, vào viện vì đau đầu và nhìn mờ. MRI cho thấy khối u vùng thái dương – chẩm phải kích thước 61 × 31 × 39 mm, lệch đường giữa 10 mm, DTI ghi nhận thâm nhiễm bó chẩm – trán dưới. Bệnh nhân được phẫu thuật mở sọ vùng chẩm phải, dựa vào mốc giải phẫu bề mặt và sâu, cắt bỏ gần hoàn toàn. Giải phẫu bệnh: glioblastoma, IDH-wildtype, chỉ số Ki-67 cao. Sau mổ, bệnh nhân cải thiện triệu chứng và được chỉ định hóa – xạ trị theo phác đồ Stupp. Kết luận: Cắt bỏ tối đa an toàn u thần kinh đệm thái dương – chẩm có thể thực hiện ngay cả khi thiếu phương tiện hiện đại, nếu có kế hoạch phẫu thuật hợp lý, nắm vững giải phẫu vi mô và phối hợp điều trị đa mô thức.</p>Đinh Thị Phương HoàiĐinh Phong SơnPhạm Tuấn DũngĐồng Văn HệNguyễn Vĩnh LạcTrần Đức HoàngLê Trọng HiếuNguyễn Thanh Minh
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816323924410.34071/jmp.2026.3.719Tạp chí Y Dược Huế số 3 tập 162026
https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1236
Tạp chí Y Dược Huế
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0
2026-06-282026-06-2816357