Tạp chí Y Dược Huế https://huejmp.vn/index.php/journal <p><strong>Giấy phép xuất bản: 207/GP-BTTTT ngày 12 tháng 06 năm 2023<br />ISSN: 3030-4318 - eISSN: 3030-4326 - DOI: 10.34071/jmp</strong></p> <p>Tạp chí Y Dược Huế, Trường Đại học Y-Dược, Đại học Huế là một tạp chí mang bản sắc riêng và mang tính đặc thù nghề nghiệp của Trường Đại học Y Dược Huế nhằm mục đích phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học và cập nhật thông tin về lĩnh vực y dược cho cán bộ y tế ở miền Trung, Tây Nguyên và cho cả nước.</p> <p>Tạp chí được xếp vào danh mục các Tạp chí Khoa học được tính điểm công trình với số điểm là từ 0 – 1,0 điểm/công trình trong danh mục khoa học của Hội đồng Giáo sư ngành Y và 0 – 0,75 điểm/công trình trong danh mục khoa học Hội đồng Giáo sư ngành Dược.</p> <div> <div>Tạp chí Y Dược Huế tiền thân là Tạp chí Y Dược học (ISSN 1859-3836) ra đời và hoạt động từ 2011-2023 với giấy phép hoạt động số 1720/GP-BTTTT ngày 15/11/2010. Sau tháng 6/2023, Tạp chí Y Dược học đổi tên thành Tạp chí Y Dược Huế với giấy phép xuất bản số 207/GP-BTTTT ngày 12/6/2023 ở hai loại hình báo chí in và điện tử.</div> <div>Xem các số đã xuất bản tại Tạp chí Y Dược học <a href="http://jmp.huemed-univ.edu.vn" target="_blank" rel="noopener">tại đây</a>.</div> </div> Trường Đại học Y-Dược, Đại học Huế vi-VN Tạp chí Y Dược Huế 3030-4318 Các dạng tồn tại của PD-L1 trong mô và máu ngoại vi https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1541 Mục tiêu: Tổng quan các dạng tồn tại chính của programmed death-ligand 1 (PD-L1) trong mô và máu ngoại vi từ góc độ giải phẫu bệnh. Phương pháp: Đây là tổng quan tường thuật có định hướng, tổng hợp có chọn lọc tài liệu từ PubMed, Scopus và Google Scholar, được tra cứu đến tháng 4 năm 2026. Từ khóa chính gồm “PD-L1”, “PD-L1 immunohistochemistry”, “soluble PD-L1”, “exosomal PD-L1”, “PD-L1 glycosylation”, “nuclear PD-L1”, “liquid biopsy”, “spatial pathology”, “artificial intelligence”, “machine learning” và “immune checkpoint inhibitor”. Kết quả: PD-L1 là một biomarker đa tầng, tồn tại dưới dạng protein màng, dạng chịu glycosyl hóa, dạng trong nhân, dạng hòa tan, dạng gắn với exosome/túi ngoại bào, dạng trên tế bào u lưu hành và dạng RNA lưu hành. PD-L1 màng đánh giá bằng hóa mô miễn dịch vẫn là nền tảng thực hành hiện nay, nhưng kết quả phụ thuộc vào loại mẫu, clone, nền tảng xét nghiệm, ngưỡng cắt, dị hợp mô u và điều kiện tiền phân tích. Các dạng PD-L1 ngoài IHC cung cấp thêm thông tin sinh học và chuyển dịch, song mức độ chuẩn hóa chưa đủ để thay thế thực hành thường quy. Kết luận: Tiếp cận PD-L1 như một hệ biomarker đa tầng giúp diễn giải kết quả chính xác hơn, tránh quá diễn giải và hỗ trợ tốt hơn cho điều trị miễn dịch cá thể hóa. Lê Thị Thanh Xuân Mai Thị Vân Anh Lê Thị Trang Vũ Kim Khánh Đào Thị Huyên Đào Anh Tuấn Đinh Hữu Tâm Ngô Thị Minh Hạnh Nguyễn Văn Chủ Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 15 22 10.34071/jmp.2026.S-2.1 Tỷ lệ mô đệm/u: Giá trị tiên lượng và ứng dụng trong thực hành giải phẫu bệnh https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1542 Tỷ lệ mô đệm/u (Tumor-Stroma Ratio - TSR) là một chỉ số mô bệnh học phản ánh mối tương quan giữa tế bào u và mô đệm trong vi môi trường u. Trong những năm gần đây, TSR được quan tâm như một yếu tố tiên lượng mới trong nhiều loại ung thư. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng về định nghĩa, cơ sở sinh học, ý nghĩa lâm sàng và phương pháp đánh giá TSR trong thực hành giải phẫu bệnh. Các tài liệu được tìm kiếm trên PubMed, Scopus và Google Scholar bằng các từ khóa liên quan đến TSR và ung thư, ưu tiên các nghiên cứu đoàn hệ, tổng quan và phân tích gộp được công bố đến tháng 3/2026. Kết quả cho thấy TSR cao (mô đệm chiếm ưu thế) liên quan chặt chẽ với u có tiên lượng xấu, bao gồm tăng nguy cơ di căn, xâm nhập mạch, xâm nhập thần kinh và giảm thời gian sống còn. TSR có thể được đánh giá trên tiêu bản nhuộm Hematoxylin-Eosin thường quy, không yêu cầu kỹ thuật bổ sung, do đó có tính ứng dụng cao trong thực hành. Các phương pháp mới dựa trên kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo góp phần nâng cao độ chính xác và tính tái lập trong đánh giá TSR. TSR có tiềm năng trở thành một chỉ số quan trọng trong phân tầng nguy cơ và hỗ trợ quyết định cá thể hóa điều trị trong tương lai. Dương Đình Toản Nguyễn Văn Chủ Nguyễn Công Trung Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 23 31 10.34071/jmp.2026.S-2.2 NIFTP: Từ tế bào học đến mô bệnh học - chúng ta đã học được những gì? https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1543 Những tiến bộ gần đây trong hiểu biết về các u tuyến giáp có diễn tiến chậm đã dẫn đến việc tái phân loại một nhóm biến thể nang có vỏ (bao) u không xâm nhập của ung thư biểu mô (UTBM) tuyến giáp thể nhú (non-invasive encapsulated follicular variant of papillary thyroid carcinoma - NI-EFVPTC). Do đặc tính sinh học lành tính, thực thể này được tái phân loại vào năm 2016 thành “non-invasive follicular thyroid neoplasm with papillary-like nuclear features (NIFTP)” và không còn được xem là UTBM. Định nghĩa của NIFTP đã được tinh chỉnh qua nhiều giai đoạn, đặc biệt trong cập nhật năm 2018 với các tiêu chí nghiêm ngặt hơn, bao gồm yêu cầu không có nhú thật sự nhằm giảm nguy cơ chẩn đoán sai. Trong phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization - WHO) năm 2022, ngưỡng < 1% cấu trúc nhú được xem xét lại và chấp nhận trở lại dựa trên các bằng chứng gần đây, đồng thời củng cố vị trí của NIFTP trong nhóm tân sản nguy cơ thấp. Các đặc điểm mô bệnh học chủ yếu, bao gồm đặc điểm nhân và việc đánh giá toàn diện vỏ u để loại trừ xâm nhập, vẫn đóng vai trò then chốt. Tuy nhiên, chẩn đoán tế bào học trước mổ vẫn còn hạn chế do thiếu các đặc điểm đặc hiệu. Bài tổng quan này nhằm tổng hợp các bằng chứng từ các nghiên cứu gần đây và cập nhật tiêu chuẩn chẩn đoán tế bào học và mô bệnh học của NIFTP qua các giai đoạn, đồng thời trình bày những thay đổi liên quan đến nguy cơ ác tính trong hệ thống Bethesda (The Bethesda System for Reporting Thyroid Cytopathology – TBSRTC). Nguyễn Thị Hằng Nguyễn Ngọc Quang Lê Hồng Chiến Bùi Thị Mỹ Hạnh Lê Thị Linh Kiều Thị Huyền Trang Yamada Homi Dương Ngọc Đan Thanh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 32 38 10.34071/jmp.2026.S-2.3 Cập nhật những thay đổi trong Phân loại Khối u hệ tiêu hóa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) - phiên bản lần thứ 6 (2026) https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1544 Phân loại Khối u hệ tiêu hóa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) - phiên bản lần thứ 6, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc chuyển đổi mạnh mẽ từ chẩn đoán hình thái sang chẩn đoán tích hợp sinh học phân tử so với phiên bản lần thứ 5, hỗ trợ cho việc điều trị, báo cáo dịch tễ học và nghiên cứu. Những thay đổi cốt lõi bao gồm việc tái cấu trúc các chương sách, giới thiệu nhiều thực thể bệnh lý mới và điều chỉnh các hệ thống phân độ mô học để tăng cường độ chính xác trong chẩn đoán và điều trị. Tuy nhiên, WHO vẫn duy trì một triết lý thực hành mang tính thực tiễn và nhân văn: các xét nghiệm phân tử tiên tiến chỉ được coi là tiêu chuẩn bắt buộc khi chúng đóng vai trò quyết định trong việc phân loại thực thể bệnh. Cách tiếp cận này đảm bảo tính khả thi cao tại các quốc gia có nguồn lực y tế còn hạn chế, đồng thời định hướng cho việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và các nghiên cứu đa trung tâm trong tương lai. Bài viết này tổng hợp các cập nhật mang tính bước ngoặt tại từng cơ quan tiêu hóa, đồng thời phân tích sâu sắc những cơ hội và thách thức trong việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế này vào thực tiễn thực hành Giải phẫu bệnh tại Việt Nam. Bùi Huỳnh Quang Minh Nguyễn Viết Trung Trần Duy Thanh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 39 47 10.34071/jmp.2026.S-2.4 Đặc điểm giải phẫu bệnh, hóa mô miễn dịch và biến đổi gen MET trong carcinôm tế bào thận dạng nhú https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1545 Carcinôm tế bào thận dạng nhú (PRCC) là thể mô bệnh học phổ biến thứ hai, chiếm 10 - 15% trường hợp carcinôm tế bào thận. Tuy chiếm tỷ lệ thấp hơn so với carcinôm tế bào sáng ở thận, nhưng nhóm bệnh nhân PRCC ở giai đoạn tiến triển hoặc di căn có thời gian sống ngắn hơn rõ rệt. Gần đây, PRCC đã được chứng minh có liên quan đến các đột biến hoạt hóa gen MET, đặc biệt, 81% trường hợp PRCC loại 1 có biến đổi gen MET, bao gồm đột biến vùng tyrosine kinase MET, tăng số bản sao nhiễm sắc thể 7, tăng số bản sao gen MET. Với vai trò vừa là gen sinh ung, vừa là gen thúc đẩy quá trình xâm lấn và di căn, MET trở thành một ứng viên đầy tiềm năng trong liệu pháp điều trị nhắm trúng đích. Trong bài tổng quan này, chúng tôi đề cập đến các hình thái mô bệnh học, hóa mô miễn dịch, đột biến và khuếch đại gen MET trong carcinôm tế bào thận dạng nhú. Bùi Thị Thanh Tâm Hồ Anh Thi Phạm Quốc Thắng Ngô Quốc Đạt Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 48 56 10.34071/jmp.2026.S-2.5 Cập nhật các phương pháp đánh giá tổn thương thận ghép và chẩn đoán mô bệnh học theo Banff 2024 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1546 Bảo tồn lâu dài chức năng thận ghép là mục tiêu chính của cả bác sĩ thận học và người nhận thận. Bởi vì sau ghép cả người bệnh và thận ghép có thể gặp nhiều nguy cơ dẫn đến các biến đổi và có thể bị tổn thương dẫn đến làm mất thận ghép. Để thực hiện tốt nhất mục tiêu này, cần đảm bảo đánh giá đầy đủ chức năng thận ghép và theo dõi chặt chẽ sức khoẻ người bệnh. Chẩn đoán đúng tình trạng chức năng thận ghép cần sử dụng các phương pháp kết hợp giữa lâm sàng, cận lâm sàng, toàn thân và tại chỗ là yêu cầu cần thiết để đảm bảo kịp thời chính xác. Hội nghị Banff lần thứ XVII năm 2024 diễn ra tại Paris (Banff 2024) đã đưa ra những thông tin cập nhật và bổ sung thêm nhiều điểm mới trong chẩn đoán và phát triển phương pháp đánh giá chức năng thận ghép nhằm tăng tính chính xác cho các bác sĩ. Bài tổng quan này cung cấp thông tin cơ bản đầy đủ các phương pháp đánh giá chức năng thận ghép và cập nhật mới quan trọng trong chẩn đoán mô bệnh học tổn thương thận ghép theo Banff 2024. Lê Tài Thế Phạm Hữu Phong Phan Huy Hảo Trần Ngọc Dũng Nguyễn Thuỳ Linh Nguyễn Sỹ Lánh Trần Ngọc Minh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 57 69 10.34071/jmp.2026.S-2.6 Tổng quan kỹ thuật vi dãy mô https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1547 Bài tổng quan trình bày về kỹ thuật vi dãy mô, phương pháp tập hợp nhiều mẫu mô từ các khối paraffin khác nhau vào cùng một khối paraffin, cho phép phân tích đồng thời trên cùng điều kiện thử nghiệm. Mục đích nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về lịch sử, ứng dụng, ưu nhược điểm và triển vọng của kỹ thuật này. Tài liệu tham khảo được thu thập từ các công bố quốc tế, sau đó tổng hợp và phân tích theo các nội dung. Kỹ thuật vi dãy mô có nhiều ưu điểm như tiết kiệm tài nguyên, chuẩn hóa xét nghiệm và nâng cao hiệu suất, dù còn tồn tại hạn chế về tính đại diện mô học và cũng như đòi hỏi về mặt kỹ thuật và chi phí đầu tư. Kỹ thuật vi dãy mô là công cụ quan trọng trong mô bệnh học hiện đại, cần được đầu tư và ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam. Nguyễn Văn Thỉnh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 70 77 10.34071/jmp.2026.S-2.7 Cập nhật các ứng dụng sinh học phân tử trong chẩn đoán và điều trị ung thư tuyến giáp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1548 Ung thư tuyến giáp là một trong những bệnh lý ác tính phổ biến nhất, trong đó sự phát triển của y sinh học phân tử đang tạo ra những bước tiến đột phá. Bài viết này tổng hợp các cập nhật mới nhất về vai trò của sinh học phân tử trong chẩn đoán, điều trị và đánh giá tiên lượng ung thư tuyến giáp. Trong chẩn đoán, việc định nhóm các biến đổi gen (như BRAF, RAS, TERT) và ứng dụng các bộ gen (panel) giải trình tự thế hệ mới (NGS) giúp cải thiện độ chính xác, đặc biệt trong việc phân tầng nguy cơ đối với các nhân giáp có kết quả tế bào học không xác định (Bethesda III/IV). Về mặt điều trị, sự ra đời của liệu pháp trúng đích (như các chất ức chế đa kinase, BRAF, RET, TRK) và liệu pháp miễn dịch mang lại những hướng tiếp cận mới đầy hứa hẹn cho các trường hợp tiến triển nhanh, kháng iod hoặc không còn khả năng phẫu thuật. Bên cạnh đó, việc ứng dụng sinh thiết lỏng và khảo sát các dấu ấn sinh học mới đang cho thấy tiềm năng to lớn trong việc theo dõi bệnh tồn dư tối thiểu (MRD), phát hiện tái phát sớm và đánh giá cơ chế kháng thuốc. Cuối cùng, việc giải mã đặc điểm dịch tễ học phân tử để xây dựng một bộ gen đặc hiệu cho quần thể người Việt Nam là định hướng thiết thực nhằm tối ưu hóa chiến lược y học cá thể hóa. Lê Vĩ Trần Văn Bảo Nguyễn Trần Bảo Song Đặng Công Thuận Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 78 85 10.34071/jmp.2026.S-2.8 Mục lục 16(S2)_2026 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1604 Tạp chí Y Dược Huế Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 10 14 Khảo sát biểu hiện dấu ấn p53 trong tổn thương tân sinh nội biểu mô kết mạc mức độ nhẹ https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1549 Đặt vấn đề: Tân sinh biểu mô gai bề mặt nhãn cầu (Ocular Surface Squamous Neoplasia OSSN) bao gồm các tổn thương từ nghịch sản (Conjunctival Intraepithelial Neoplasia CIN) đến carcinôm tế bào gai (Squamous Cell Carcinoma SCC). Việc xác định chính xác mức độ ác tính và khả năng tiến triển là thách thức trong giải phẫu bệnh. Gen TP53 mã hóa protein p53 là gen ức chế u quan trọng, thường đột biến do tác động của tia cực tím (UV-B) - yếu tố nguy cơ chính của OSSN. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng - mô bệnh học và biểu hiện p53 của các trường hợp CIN1, khảo sát mối liên quan giữa biểu hiện p53 và các đặc điểm lâm sàng - mô bệnh học, đồng thời so sánh biểu hiện p53 ở CIN 1 với mô kết mạc bình thường. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 25 trường hợp CIN 1 trong đó có 9 trường hợp có mẫu mô kết mạc bình thường tại Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh từ 2022 - 2024. Đánh giá biểu hiện p53 bằng hóa mô miễn dịch (HMMD) theo 2 kiểu hình: kiểu hoang dã và kiểu đột biến với các mức độ: biểu hiện rải rác, biểu hiện quá mức, không biểu hiện, biểu hiện bào tương. Kết quả: Trong 25 trường hợp CIN 1, tuổi trung bình là 45, nam chiếm ưu thế (84%). Đa số trường hợp biểu hiện p53 kiểu hoang dã (76%), trong khi 24% có kiểu p53 đột biến. Mức độ biểu hiện p53 ở nhóm CIN 1 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với biểu mô kết mạc bình thường (p = 0,002). Kết luận: Nghiên cứu cho thấy CIN 1 gặp ưu thế ở nam giới và biểu hiện p53 trong CIN 1 chủ yếu là kiểu hoang dã, đồng thời nghiên cứu đã chứng minh mức độ biểu hiện p53 ở nhóm CIN 1 cao hơn hẳn so với biểu mô kết mạc bình thường với ý nghĩa thống kê rất rõ ràng. Điều này khẳng định p53 là dấu ấn nhạy bén với tổn thương tế bào do tia UV gây ra từ giai đoạn rất sớm. Nguyễn Thị Hoàng Lộc Nguyễn Phan Xuân Trường Hồ Anh Thi Vũ Thị Việt Thu Lý Thanh Thiện Bùi Thị Huyền Thương Phạm Quốc Thắng Ngô Quốc Đạt Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 86 91 10.34071/jmp.2026.S-2.9 Đặc điểm màng biofilm vi khuẩn ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn trên kính hiển vi điện tử quét https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1550 Mục tiêu: Xác định một số đặc điểm siêu cấu trúc của màng sinh học (biofilm) vi khuẩn trên niêm mạc mũi xoang ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính, qua đó góp phần làm rõ vai trò của biofilm trong cơ chế bệnh sinh và định hướng điều trị. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 11 mẫu niêm mạc mũi xoang của 11 bệnh nhân được chẩn đoán viêm mũi xoang mạn theo tiêu chuẩn EPOS 2020. Các mẫu được xử lý theo quy trình chuẩn và quan sát bằng kính hiển vi điện tử quét ở độ phóng đại từ 1500 đến 5000 lần để đánh giá cấu trúc bề mặt và sự hiện diện của biofilm. Kết quả: Biofilm được quan sát thấy ở 8/11 mẫu (72,7%), biểu hiện dưới dạng cấu trúc ba chiều phức tạp và không đồng nhất. Bề mặt niêm mạc bị tổn thương rõ rệt với tình trạng giảm, mất hoặc biến dạng lông chuyển, kèm theo sự tích tụ chất nhầy và mảnh vụn tế bào. Các vi khuẩn (hình cầu và hình que) phân bố dày đặc tỷ lệ 91%, được bao bọc trong lớp chất nền ngoại bào (EPS) dạng cấu trúc mạng lưới 3 chiều vô định hình. Sự liên kết chặt chẽ giữa vi khuẩn và EPS thể hiện đặc điểm siêu cấu trúc của biofilm trưởng thành. Kết luận: Quy trình chuẩn bị mẫu mô mũi xoang viêm mạn tính cho hiển vi điện tử quét đã có thể giúp phát hiện sự hiện diện phổ biến của biofilm trên niêm mạc mũi xoang ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn với các đặc điểm siêu cấu trúc điển hình. Những phát hiện này góp phần làm sáng tỏ vai trò của biofilm trong bệnh sinh, đồng thời có ý nghĩa trong chẩn đoán, tiên lượng và định hướng các chiến lược điều trị nhắm trúng biofilm. Nguyễn Xuân Thành Lê Tài Thế Phan Huy Hảo Tưởng Phi Vương Cao Minh Thành Nguyễn Thuỳ Trâm Đặng Anh Dũng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 92 98 10.34071/jmp.2026.S-2.10 Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật carcinôm tuyến giáp biệt hóa ở trẻ em https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1551 Đặt vấn đề: Carcinôm tuyến giáp biệt hóa (CTGBH) ở trẻ em hiếm gặp nhưng đang có xu hướng gia tăng trên toàn thế giới. Bệnh có tỷ lệ xâm lấn tại chỗ, di căn hạch và di căn xa cao hơn so với người lớn. Tuy vậy, bệnh nhi CTGBH có tiên lượng sống còn toàn bộ rất cao, tỷ lệ sống còn toàn bộ 10 năm > 98%. Phẫu thuật giữ vai trò quyết định trong điều trị các bệnh nhi này. Tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị CTGBH ở trẻ em. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tỷ lệ biến chứng, tái phát sau phẫu thuật CTGBH ở trẻ em. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca hồi cứu ở 31 bệnh nhi mắc CTGBH được phẫu thuật tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng tháng 01 năm 2019 đến tháng 06 năm 2022. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhi là 12,2 ± 2,5 tuổi, chủ yếu ≥ 10 tuổi (80,7%), với tỷ lệ nữ/nam là 2,5/1. Biểu hiện thường gặp là khối vùng cổ (87,1%), đa số có chức năng tuyến giáp bình thường. Hầu hết là nhân giáp đơn ổ (kích thước trung bình 29 mm) với các đặc điểm siêu âm nghi ngờ ác tính cao; 87,5% được phân loại TI-RADS 5. FNA trước mổ cho thấy 96,8% ác tính, chủ yếu phân loại Bethesda nhóm VI. Phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp được thực hiện ở 83,9% trường hợp và kèm điều trị 131I (26 bệnh nhân). Giải phẫu bệnh xác nhận carcinôm tuyến giáp dạng nhú chiếm ưu thế (97%), với tỷ lệ xâm lấn cơ quan lân cận 42%, di căn hạch 80% và di căn xa 38,7% (chủ yếu phổi). Theo ATA 2015, đa số CTGBH thuộc nhóm nguy cơ cao (54,9%). Biến chứng thường gặp là khàn tiếng tạm thời (19,4%) và suy tuyến cận giáp tạm thời (64,5%); suy tuyến cận giáp vĩnh viễn chiếm 9,7%. Khàn tiếng tạm thời liên quan có ý nghĩa với giới nam (p = 0,04), xâm lấn dây thần kinh hồi thanh quản (p < 0,001) và hạch xâm lấn đại thể (p = 0,001). Suy tuyến cận giáp tạm thời liên quan chặt chẽ với phương pháp phẫu thuật (p < 0,001). Ở nhóm cắt giáp toàn phần, nồng độ Tg kích thích sau mổ 21 ngày càng cao thì nguy cơ di căn xa càng tăng (p = 0,045). Kết luận: CTGBH ở trẻ em thường khởi phát sau 10 tuổi với biểu hiện khối vùng cổ, có đặc điểm siêu âm nguy cơ ác tính cao, mô học chủ yếu là dạng nhú, di căn hạch cổ lớn và phần lớn thuộc nhóm nguy cơ cao. Về biến chứng, khàn tiếng tạm thời liên quan ý nghĩa với giới tính nam, xâm lấn thần kinh hồi thanh quản và hạch xâm lấn đại thể; trong khi suy tuyến cận giáp tạm thời liên quan mật thiết với chỉ định cắt toàn bộ tuyến giáp. Tỷ lệ di căn xa khá cao (chủ yếu ở phổi) và có nguy cơ gia tăng khi nồng độ Tg kích thích ở thời điểm 21 ngày sau mổ càng cao. Nguyễn Thị Thu Thảo Nguyễn Phan Xuân Trường Nguyễn Thị Kim Linh Trịnh Đình Thế Nguyên Phan Đặng Anh Thư Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 99 109 10.34071/jmp.2026.S-2.11 Đặc điểm hóa mô miễn dịch và phân nhóm phân tử ung thư biểu mô tế bào nhỏ phổi https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1552 Đặt vấn đề: Ung thư biểu mô tế bào nhỏ phổi là loại ung thư có độ ác tính cao, tiên lượng xấu và tính đa dạng sinh học đáng kể. Các nghiên cứu gần đây cho thấy có thể phân loại phân tử dựa trên biểu hiện các yếu tố phiên mã bằng hóa mô miễn dịch, với mức độ tương đồng so với biểu hiện mRNA và tiềm năng ứng dụng trong thực hành lâm sàng. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá biểu hiện các dấu ấn hóa mô miễn dịch và phân nhóm phân tử trong ung thư biểu mô tế bào nhỏ phổi, đồng thời phân tích mối liên quan giữa các nhóm phân tử với một số đặc điểm lâm sàng và hóa mô miễn dịch. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 86 bệnh phẩm và hồ sơ bệnh án ung thư biểu mô tế bào nhỏ phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương và Bệnh viện Ung bướu Hà Nội (2022–2025). Các dấu ấn CD56, synaptophysin, chromogranin A, TTF-1, Ki-67 và các yếu tố phiên mã ASCL1, NEUROD1, POU2F3, YAP1, HNF4A được đánh giá bằng hóa mô miễn dịch. Biểu hiện dương tính của các yếu tố phiên mã được xác định khi H-score > 10. Phân nhóm phân tử được xác định dựa trên yếu tố phiên mã có H-score cao nhất và > 50. Kết quả: Các dấu ấn thần kinh nội tiết biểu hiện cao > 90% trường hợp. ASCL1 là yếu tố phiên mã biểu hiện phổ biến nhất (89,5%), tiếp theo là NEUROD1 (39,5%). Phân nhóm chủ yếu là A (73,3%) và N (14%). Không ghi nhận mối liên quan giữa các nhóm phân tử với đặc điểm lâm sàng, TTF-1 và Ki-67. Nhóm A và N chủ yếu thuộc nhóm thần kinh nội tiết cao. Kết luận và khuyến nghị: Hóa mô miễn dịch có thể hỗ trợ phân loại phân tử ung thư biểu mô tế bào nhỏ phổi trên bệnh phẩm sinh thiết nhỏ trong thực hành thường quy. Các phân nhóm phân tử phản ánh tính đa dạng sinh học của khối u và cần được tiếp tục nghiên cứu về giá trị tiên lượng và định hướng điều trị. Nguyễn Thị Thanh Yên Bùi Thị Mỹ Hạnh Nguyễn Cảnh Hiệp Lê Trung Thọ Dương Hoàng Hảo Trần Thị Tuấn Anh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 110 117 10.34071/jmp.2026.S-2.12 Đối chiếu đặc điểm mô bệnh học và chẩn đoán hình ảnh của bệnh nhân u trung thất tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1553 Đặt vấn đề: U trung thất (UTT) là nhóm bệnh lý có bản chất mô bệnh học đa dạng và triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, thường được phát hiện tình cờ qua các phương tiện hình ảnh học như chụp cắt lớp vi tính (CLVT). Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu đối chiếu đặc điểm trên phim CLVT với đặc điểm giải phẫu bệnh ở bệnh nhân có UTT tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu trên 393 bệnh nhân có kết quả chụp CLVT xác định u ở trung thất và có bệnh phẩm sinh thiết hoặc bệnh phẩm phẫu thuật tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ tháng 01/2016 đến tháng 06/2022. Các yếu tố hình ảnh được đối sánh với kết quả mô bệnh học bằng phương pháp hồi quy đơn biến. Kết quả: Kích thước u trung bình là 6,68 ± 2,26 cm. Vị trí u có liên quan chặt chẽ với phân nhóm mô học: trung thất trước chủ yếu là nhóm u biểu mô tuyến ức (67,8%), trung thất sau có 97,1% là nhóm u mô mềm và trung thất giữa thường gặp là nhóm u di căn với 100% các trường hợp là di căn hạch trung thất. Nghiên cứu xác định các dấu hiệu trên CLVT có liên quan mật thiết đến tính chất ác tính (p < 0,01) bao gồm: bờ tổn thương không đều (OR 7,23 (3,93 - 13,29)), xâm lấn cơ quan xung quanh (OR 18,83 (6,71 - 52,82)), mật độ u không đồng nhất (OR 9,86 (6,19 - 15,72)) và bắt thuốc cản quang không đồng nhất (OR 14,59 (8,88 - 23,96)). Kết luận: Chẩn đoán hình ảnh bằng CLVT đóng vai trò quan trọng trong việc định vị, gợi ý phân nhóm mô học và khả năng ác tính của UTT. Vũ Thị Hiếu Phạm Văn Tân Thái Đức Luân Đặng Khánh Bình Phan Cao Đức Huy Nguyễn Võ Thu Vân Võ Triều Lý Đoàn Thị Phương Thảo Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 118 124 10.34071/jmp.2026.S-2.13 Các yếu tố lâm sàng, nội soi, mô bệnh học liên quan đến tình trạng hiện diện thành phần nhánh của nền u tuyến ở polyp đại trực tràng hóa ác giai đoạn pT1 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1554 Đặt vấn đề: Polyp đại trực tràng hóa ác giai đoạn pT1 là tổn thương sớm quan trọng. Nghiên cứu nhằm khảo sát vai trò của thành phần nhánh của nền u tuyến và mối liên quan với các đặc điểm lâm sàng, nội soi và mô bệnh học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang trên 93 trường hợp polyp hóa ác pT1 trên nền u tuyến thông thường từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2024. Sự hiện diện của thành phần nhánh được phân tích mối liên quan với các đặc điểm bệnh lý bằng các phép kiểm định thống kê thích hợp (p < 0,05). Kết quả: Thành phần nhánh hiện diện ở 73,1% trường hợp, có liên quan ý nghĩa với vị trí trực tràng (p = 0,033), kích thước lớn (p = 0,022), carcinôm độ 2 (p = 0,001) và nhóm Haggitt/Kikuchi nguy cơ thấp (p = 0,010). Phân tích đa biến xác định carcinôm độ 2 theo CAP (OR = 3,88; p = 0,043) và phân độ Haggitt/Kikuchi nguy cơ cao (OR = 0,11; p = 0,011) là hai yếu tố liên quan độc lập với khả năng hiện diện của thành phần này. Kết luận: Thành phần nhánh của nền u tuyến là đặc điểm thường gặp trong polyp pT1 và liên quan độc lập với các yếu tố mô bệnh học quan trọng. Kết quả gợi ý đây có thể là một chỉ dấu bổ trợ trong phân tầng nguy cơ lâm sàng. Hồ Thị Hồng Phát Nguyễn Đức Duy Giang Mỹ Ngọc Lê Hồ Ngọc Trâm Trần Hương Giang Lê Minh Huy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 125 132 10.34071/jmp.2026.S-2.14 Vai trò của PAS và Alcian Blue trong phân loại mô học carcinôm tuyến biệt hóa kém dạ dày và mối liên quan với các đặc điểm mô bệnh học bất lợi https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1555 Đặt vấn đề: Carcinom tuyến biệt hóa kém dạ dày, đặc biệt nhóm carcinom kém kết dính và carcinom tế bào nhẫn, là các loại mô học có đặc điểm sinh học phức tạp và thường liên quan với các đặc điểm mô bệnh học bất lợi. Tuy nhiên, việc nhận diện chính xác thành phần tế bào nhẫn trên tiêu bản nhuộm hematoxylin-eosin (H&E) đôi khi gặp khó khăn. PAS (Periodic Acid-Schiff) và Alcian Blue (AB) là các kỹ thuật nhuộm đặc biệt có thể giúp phát hiện chất nhầy trong tế bào u, hỗ trợ phân loại mô học và đánh giá đặc điểm sinh học của khối u. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát biểu hiện PAS và Alcian Blue trong carcinom tuyến biệt hóa kém dạ dày, đánh giá vai trò của hai phương pháp nhuộm trong tái phân loại mô học và khảo sát mối liên quan với các đặc điểm mô bệnh học bất lợi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 144 trường hợp carcinom tuyến biệt hóa kém dạ dày được phẫu thuật cắt một phần hoặc toàn bộ dạ dày tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2022 đến tháng 01/2025. Các trường hợp được đánh giá lại trên tiêu bản H&E, nhuộm PAS và Alcian Blue pH 2,5. Mức độ biểu hiện được đánh giá bằng hệ thống điểm bán định lượng IRS. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 60,1 ± 11,8 tuổi, tỷ lệ nam:nữ là 1,8:1. Có 68,1% trường hợp ở giai đoạn muộn, 79,9% có di căn hạch và 75,0% có xâm nhập quanh thần kinh. Sau nhuộm PAS và Alcian Blue, phân loại mô học thay đổi ở 39/144 trường hợp (27,1%). Đáng chú ý, 47,2% trường hợp carcinom kém kết dính có thành phần tế bào nhẫn được phân loại lại thành carcinom tế bào nhẫn. PAS bắt màu mạnh liên quan với giai đoạn bệnh sớm và giảm xâm nhập quanh thần kinh, trong khi Alcian Blue bắt màu mạnh liên quan với di căn hạch và giai đoạn bệnh muộn. Tỷ số AB/PAS > 0,5 có liên quan có ý nghĩa thống kê với xâm nhập mạch máu, xâm nhập quanh thần kinh, di căn hạch và giai đoạn bệnh muộn. Kết luận: PAS và Alcian Blue có giá trị hỗ trợ nhận diện thành phần tế bào nhẫn và có thể làm thay đổi phân loại mô học ở một tỷ lệ đáng kể carcinom tuyến biệt hóa kém dạ dày. Mức độ biểu hiện PAS, Alcian Blue và tỷ số AB/PAS có liên quan với các đặc điểm mô bệnh học bất lợi của khối u. Lưu Quế Anh Lê Minh Huy Lưu Thị Thu Thảo Trần Quốc Ân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 133 140 10.34071/jmp.2026.S-2.15 Chuẩn hóa quy trình nhuộm CYP11B2 trong u tuyến vỏ thượng thận có cường aldosterone nguyên phát https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1556 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Cường aldosterone nguyên phát (CANP) do sản xuất aldosterone quá mức từ tuyến thượng thận là nguyên nhân nội tiết thường gặp nhất gây tăng huyết áp (THA) thứ phát tại Việt Nam. Chẩn đoán CANP dựa trên Hệ thống phân loại về mô bệnh học Cường aldosterone nguyên phát (HISTALDO) đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chính thức phê chuẩn và đưa vào hướng dẫn cập nhật năm 2022, bằng cách kết hợp giữa hình thái mô học H&amp;E và kỹ thuật hóa mô miễn dịch (HMMD) chức năng CYP11B2 (aldosterone synthase) - một enzyme then chốt trong quá trình sinh tổng hợp aldosterone.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Chuẩn hoá quy trình nhuộm HMMD CYP11B2 trên u tuyến vỏ thượng thận có cường aldosterone nguyên phát.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu tiến hành chuẩn hóa quy trình nhuộm HMMD CYP11B2 trên 34 mẫu mô Paraffin được chẩn đoán u tuyến vỏ thượng thận có cường aldosterone nguyên phát tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/01/2024 đến 31/12/2024 với kháng thể đa dòng có nguồn gốc từ thỏ.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Nghiên cứu xây dựng thành công quy trình nhuộm HMMD xác định biểu hiện protein CYP11B2 trên mô vỏ thượng thận, đóng vai trò là bằng chứng mô bệnh học trực tiếp cho hoạt động bài tiết aldosterone sinh lý.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Xây dựng thành công quy trình nhuộm HMMD CYP11B2 là bước đầu quan trọng, tạo tiền đề vững chắc cho quá trình chẩn đoán xác định và hướng đến triển khai thành quy trình nhuộm thường quy trong tương lai. Đặc điểm biểu hiện CYP11B2 trên khối u thể hiện tính đa dạng trong mô hình bài tiết hormone, nên việc nhuộm CYP11B2 là rất cần thiết trong hỗ trợ chẩn đoán và phân loại bệnh nhân, đồng thời tối ưu cho chiến lược điều trị cá thể hóa trong tương lai. </p> <p> </p> Đặng Thị Ngọc Lan Vũ Tuấn Dũng Võ Thanh Hải Trần Nhật Đăng Quang Lý Thanh Thiện Trần Viết Thắng Trần Hương Giang Phạm Quốc Thắng Ngô Quốc Đạt Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 141 147 10.34071/jmp.2026.S-2.16 Đánh giá bước đầu tính khả thi của nhuộm kép p16/ki-67 trên mẫu tế bào học cổ tử cung nhúng dịch tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1557 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Cường aldosterone nguyên phát (CANP) do sản xuất aldosterone quá mức từ tuyến thượng thận là nguyên nhân nội tiết thường gặp nhất gây tăng huyết áp (THA) thứ phát tại Việt Nam. Chẩn đoán CANP dựa trên Hệ thống phân loại về mô bệnh học Cường aldosterone nguyên phát (HISTALDO) đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chính thức phê chuẩn và đưa vào hướng dẫn cập nhật năm 2022, bằng cách kết hợp giữa hình thái mô học H&amp;E và kỹ thuật hóa mô miễn dịch (HMMD) chức năng CYP11B2 (aldosterone synthase) - một enzyme then chốt trong quá trình sinh tổng hợp aldosterone.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Chuẩn hoá quy trình nhuộm HMMD CYP11B2 trên u tuyến vỏ thượng thận có cường aldosterone nguyên phát.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu tiến hành chuẩn hóa quy trình nhuộm HMMD CYP11B2 trên 34 mẫu mô Paraffin được chẩn đoán u tuyến vỏ thượng thận có cường aldosterone nguyên phát tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 01/01/2024 đến 31/12/2024 với kháng thể đa dòng có nguồn gốc từ thỏ.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Nghiên cứu xây dựng thành công quy trình nhuộm HMMD xác định biểu hiện protein CYP11B2 trên mô vỏ thượng thận, đóng vai trò là bằng chứng mô bệnh học trực tiếp cho hoạt động bài tiết aldosterone sinh lý.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Xây dựng thành công quy trình nhuộm HMMD CYP11B2 là bước đầu quan trọng, tạo tiền đề vững chắc cho quá trình chẩn đoán xác định và hướng đến triển khai thành quy trình nhuộm thường quy trong tương lai. Đặc điểm biểu hiện CYP11B2 trên khối u thể hiện tính đa dạng trong mô hình bài tiết hormone, nên việc nhuộm CYP11B2 là rất cần thiết trong hỗ trợ chẩn đoán và phân loại bệnh nhân, đồng thời tối ưu cho chiến lược điều trị cá thể hóa trong tương lai. </p> Trần Hương Giang Hồ Thị Hồng Phát Nguyễn Thị Thanh Trúc Lương Anh Khoa Nguyễn Ngọc Lâm Trần Nhật Thăng Nguyễn Vũ Hà Phúc Đỗ Thanh Thùy Nguyễn Thị Hảo Nguyễn Đức Duy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 148 155 10.34071/jmp.2026.S-2.17 Khảo sát đặc điểm mô bệnh học sarcom tạo xương sau hóa trị tân bổ trợ trong điều trị phẫu thuật bảo tồn chi https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1558 Đặt vấn đề: Các đặc điểm mô bệnh học sarcom tạo xương sau hóa trị tân bổ trợ hiện nay vẫn chưa được mô tả đầy đủ và thiếu sự thống nhất về tiêu chí đánh giá. Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm mô bệnh học của sarcom tạo xương sau hóa trị và đánh giá mối liên quan với các yếu tố lâm sàng, hình ảnh học, góp phần tối ưu hóa chiến lược bảo tồn chi. Đối tượng và phương pháp: Báo cáo 34 trường hợp sarcom tạo xương được hóa trị tân bổ trợ và phẫu thuật bảo tồn chi tại Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh từ 10/2024 đến 03/2026. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 18,4 ± 10 tuổi. Nam giới chiếm ưu thế (55,9%). Về vị trí, vùng “gần gối, xa khuỷu” chiếm đa số (88,2%). Trên X quang, phản ứng màng xương ghi nhận chiếm 91,2% trường hợp. Tỷ lệ tương đồng giữa phân nhóm mô học trên mẫu sinh thiết và phẫu thuật là 76,5%, trong đó dạng nguyên bào xương là thể thường gặp nhất. Đáp ứng tốt sau hóa trị (Huvos III, IV) chiếm tỷ lệ 55,9%. Phân bào bất thường và hình ảnh xâm nhập mạch trên mẫu phẫu thuật có ý nghĩa với tình trạng đáp ứng kém sau hóa trị (p < 0,05). Số lượng đại bào hủy xương ≥ 5/10 HPF trên mẫu sinh thiết có ý nghĩa với đáp ứng tốt sau hóa trị và đạt bờ phẫu thuật an toàn (p < 0,05). Kết luận: Số lượng đại bào hủy xương, hình ảnh phân bào bất thường và xâm nhập mạch có liên quan đến đáp ứng hóa trị tân bổ trợ và tình trạng bờ phẫu thuật. Ngược lại, các phân nhóm mô học của sarcom tạo xương không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với các yếu tố này. Dương Duy Hưng Dương Thanh Tú Vũ Tuấn Dũng Lý Thanh Thiện Ngô Viết Nhuận Phạm Thanh Nhã Trần Tiến Khánh Bùi Hoàng Lạc Lê Văn Thọ Ngô Quốc Đạt Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 156 164 10.34071/jmp.2026.S-2.18 Nghiên cứu biểu hiện của dấu ấn H3.3 G34W trên bướu đại bào xương https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1559 Đặt vấn đề: Bướu đại bào xương là tổn thương xương có bản chất đặc điểm mô học đa dạng do đó chẩn đoán thường cần kết hợp dữ kiện lâm sàng, hình ảnh học và giải phẫu bệnh. Gần đây, đột biến gen H3F3A được xác định là dấu ấn phân tử đặc trưng của bướu này; đồng thời, kháng thể hóa mô miễn dịch tương ứng H3.3 G34W đã được ứng dụng trong thực hành giải phẫu bệnh, góp phần hỗ trợ chẩn đoán một cách hiệu quả. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm khảo sát đặc điểm mô học của bướu đại bào xương và tỷ lệ biểu hiện dấu ấn H3.3 G34W trên bướu này. Mục tiêu: Khảo sát biểu hiện hóa mô miễn dịch dấu ấn H3.3. G34W trong bướu đại bào xương với đặc điểm tuổi, vị trí, giới tính và mô học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu là mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu gồm 91 trường hợp được chẩn đoán bướu đại bào xương bằng HE và hình ảnh học từ tháng 6/2024 đến tháng 12/2025. Các trường hợp nghiên cứu được khảo sát vi thể, chọn vùng đúc TMA và nhuộm hóa mô miễn dịch dấu ấn H3.3 G34W. Kết quả: Dấu ấn H3.3 G34W biểu hiện độc lập với các đặc điểm lâm sàng về tuổi, giới tính cũng như vị trí của bướu. Kết luận: Tỷ lệ biệu hiện cao trong bướu đại bào xương cho thấy vai trò quan trọng và tính ứng dụng của dấu ấn H3.3 G34W, đặc biệt là ở các vị trí và độ tuổi ít xuất hiện bướu đại bào xương. Nguyễn Tuấn Kiệt Vũ Tuấn Dũng Lý Thanh Thiện Võ Thanh Hải Trần Nhật Đăng Quang Lê Văn Thọ Ngô Quốc Đạt Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 165 172 10.34071/jmp.2026.S-2.19 Chuẩn hoá quy trình nhuộm von Kossa trong chẩn đoán bệnh Malakoplakia https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1560 Đặt vấn đề: Kỹ thuật nhuộm von Kossa là một phương pháp quan trọng trong giải phẫu bệnh và mô phôi học nhằm phát hiện sự hiện diện của canxi trong các mô cơ thể. Kỹ thuật này hỗ trợ chẩn đoán một số bệnh lý, trong đó có Malakoplakia - một thể bệnh viêm hiếm gặp có thể nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Việc chuẩn hoá quy trình nhuộm von Kossa giúp ích cho thực hành. Mục tiêu: Chuẩn hoá quy trình nhuộm von Kossa Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thực nghiệm mô tả trên ca bệnh chẩn đoán xác định Malakoplakia, mẫu mô được cắt mỏng ở các độ dày là 3, 4, 5 và 6 µm với thời gian ủ bạc nitrate 5% lần lượt ở các mốc 15, 30, 45 và 60 phút. Mỗi thí nghiệm lặp lại 3 lần và đánh giá hiệu quả qua sự biểu hiện thể Michaelis-Gutmann (M-G). Kết quả: Phương pháp nhuộm làm nổi bật thể M-G dạng “hình bia” màu đen. Kết quả phụ thuộc vào độ dày lát cắt và thời gian ủ bạc nitrate 5%. Thời gian ngắn 15 phút, hầu hết các mẫu bắt màu nâu nhạt đến nâu đen, chưa đạt độ tương phản cần thiết. Với mốc 30 - 45 phút, thể M-G trên lát cắt 4 µm và 5 µm có dạng hình bia đặc trưng và màu đen đồng nhất. Thời gian ủ 60 phút tất cả mẫu đều bắt màu đen đậm, nhưng lại gây hiện tượng quá nhuộm trên các lát mỏng, làm che lấp hình thái. Kết luận: Chuẩn hóa quy trình khuyến cáo lát cắt mỏng 4 µm và thời gian ủ bạc nitrate 5% khoảng 45 phút cho biểu hiện tốt nhất. Đặng Ngọc Khánh Đặng Hoàng Minh Bùi Thị Huyền Thương Phạm Quốc Thắng Nguyễn Ngọc Minh Tâm Nhan Thị Hiếu Bùi Thị Thanh Tâm Đặng Trần Quân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 173 179 10.34071/jmp.2026.S-2.20 Thiết lập quy trình nuôi cấy và đánh giá đặc điểm mô học organoid ung thư đại trực tràng https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1561 Nghiên cứu Thiết lập quy trình nuôi cấy và đánh giá đặc điểm mô học organoid ung thư đại trực tràng Trần Thu Thủy1, Phạm Quốc Thắng1*, Nguyễn Minh Phương1*, Lê Hồng Ngân1,2, Bùi Nhật Vy1, Đặng Trần Quân1, Lê Minh Triết3, Trần Thanh Sang3, Vũ Tuấn Dũng1, Hoàng Danh Tấn3, Ngô Quốc Đạt1 1 Bộ môn Mô phôi - Giải phẫu bệnh, Trường Y, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 2 Khoa Y Dược, Trường Đại học Tây Nguyên 3 Khoa Ngoại Tiêu hóa, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh *Tác giả liên hệ (Corresponding author): Phạm Quốc Thắng; Email: phamquocthang@ump.edu.vn Nguyễn Minh Phương, Email: nguyenminhphuong@ump.edu.vn Ngày nhận bài (Received): 02/05/2026; Ngày duyệt đăng (Accepted): 20/06/2026; Ngày xuất bản (Published): 10/08/2026 DOI:10.34071/jmp.2026.S-2.21 Đặt vấn đề: Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một gánh nặng y tế toàn cầu. Các mô hình nghiên cứu tiền lâm sàng truyền thống thường thất bại trong việc tái tạo cấu trúc không gian và tính đa dạng di truyền của khối u. Organoid là công nghệ nuôi cấy từ tế bào gốc, tái tạo phiên bản thu nhỏ và giúp bảo tồn các đặc điểm mô bệnh học của cơ quan gốc. Mục tiêu: Thiết lập quy trình nuôi cấy organoid UTĐTT tạo tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn về sinh lý, bệnh học cũng như điều trị. Đối tượng và Phương pháp: Mẫu mô u thu thập sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM sẽ được xử lý và nuôi cấy trên khung giá thể chất nền ngoại bào. Các dòng organoid hình thành sẽ được đánh giá hình thái, cấu trúc qua nhuộm H&E và biểu hiện các dấu ấn miễn dịch CK20, CDX2. Kết quả: Nghiên cứu đã tạo được organoid UTĐTT sau 2 - 7 ngày, với các hình thái organoid dạng đặc, nang qua các lần cấy chuyền. Kết quả nhuộm H&E và hóa mô miễn dịch cho thấy các dòng organoid tái tạo cấu trúc mô học của ung thư biểu mô tuyến đại tràng, với sự tương đồng biểu hiện của các dấu ấn đặc hiệu CK20 và CDX2. Kết luận: Nghiên cứu xây dựng thành công quy trình nuôi cấy và tạo ra các dòng organoid UTĐTT, góp phần tạo nền tảng cho các nghiên cứu tiền lâm sàng về sàng lọc thuốc cá thể hóa và tìm hiểu cơ chế bệnh sinh của UTĐTT. Trần Thu Thủy Phạm Quốc Thắng Nguyễn Minh Phương Lê Hồng Ngân Bùi Nhật Vy Đặng Trần Quân Lê Minh Triết Trần Thanh Sang Vũ Tuấn Dũng Hoàng Danh Tấn Ngô Quốc Đạt Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 180 187 10.34071/jmp.2026.S-2.21 Tối ưu hoá quy trình nhuộm hoá mô miễn dịch đánh giá protein sửa lỗi bắt cặp sai trong carcinom tuyến tuyến tiền liệt https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1562 Đặt vấn đề: Hệ thống sửa lỗi bắt cặp sai DNA (MMR) có vai trò quan trọng trong ổn định bộ gen và liên quan đến đáp ứng điều trị miễn dịch trong ung thư. Trong carcinom tuyến tuyến tiền liệt, tỷ lệ thiếu hụt MMR thấp nhưng có ý nghĩa lâm sàng. Tuy nhiên, hiệu quả của hoá mô miễn dịch (HMMD) phụ thuộc vào quy trình kỹ thuật, do đó cần tối ưu hoá. Mục tiêu nghiên cứu: Tối ưu hoá quy trình nhuộm HMMD các protein MMR gồm MSH2, MSH6, MLH1 và PMS2, đồng thời đánh giá tính khả thi của quy trình khi áp dụng trên carcinom tuyến tuyến tiền liệt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 138 trường hợp đã được chẩn đoán carcinom tuyến tuyến tiền liệt tại Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Bình Dân. Các mẫu được thực hiện sắp xếp dãy mô nhỏ (TMA) với 3 lõi mỗi trường hợp. Nhuộm HMMD được thực hiện trên hệ thống tự động BenchMark XT. Quy trình được tối ưu hoá thông qua điều chỉnh thời gian bộc lộ kháng nguyên, thời gian ủ kháng thể, thời gian của hệ phát hiện tín hiệu và hệ thống khuếch đại tín hiệu. Kết quả: 131/138 ca (94,9%) còn biểu hiện MMR và 7/138 ca (5,1%) mất biểu hiện. MSH6 yêu cầu thời gian bộc lộ kháng nguyên dài hơn, PMS2 cần ủ kháng thể lâu hơn, trong khi MLH1 và PMS2 cần khuếch đại tín hiệu. Quy trình cho tín hiệu nhuộm nhân rõ, nhuộm nền không đáng kể và nội chứng tốt. Kết luận: Quy trình nhuộm HMMD được tối ưu hoá cho thấy độ tin cậy cao và phù hợp triển khai trong thực hành. Lê Thị Quỳnh Mai Dương Thanh Tú Phạm Quốc Thắng Bùi Thị Huyền Thương Lý Thanh Thiện Bùi Thị Thanh Tâm Nguyễn Ngọc Minh Tâm Ngô Quốc Đạt Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 188 193 10.34071/jmp.2026.S-2.22 Ứng dụng kỹ thuật Digital PCR trong xét nghiệm đột biến gen tại Bệnh viện Phổi Trung ương: Từ quy trình chuẩn đến kinh nghiệm xử lý sự cố thực tế https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1563 Mục tiêu: Mô tả kết quả triển khai kỹ thuật Digital PCR (dPCR) trong phát hiện đột biến gen ở người bệnh ung thư phổi và tổng kết kinh nghiệm quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 15189:2022 tại Bệnh viện Phổi Trung ương. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp tổng kết kinh nghiệm triển khai, dữ liệu vận hành kỹ thuật Digital PCR tại Bệnh viện Phổi Trung ương. Kết quả: Từ tháng 08/2025 - tháng 04/2026, 441 mẫu (gồm 380 mẫu FFPE và 61 mẫu huyết tương) đã được thực hiện xét nghiệm Digital PCR (dPCR): 1) Tỷ lệ đột biến gen: Tỷ lệ đột biến gen EGFR mẫu huyết tương: 56%; Tỷ lệ đột biến gen EGFR mẫu FFPE: 52%; Tỷ lệ đột biến gen của mẫu FFPE trên cả 3 Panel ung thư phổi: 29%. 2) Kết quả thực hiện Phê duyệt phương pháp và so sánh liên phòng trên 10 mẫu FFPE đều cho thấy sự phù hợp với các phương pháp tham chiếu. 3) Ghi nhận 12 lỗi trong tổng số 441 xét nghiệm Digital PCR được thực hiện (khoảng 2,7%) Kết luận: Digital PCR có khả năng phát hiện và định lượng các đột biến gen ở mức siêu nhạy (VAF < 0,1%), giúp tăng khả năng xác định đột biến cho các mẫu sinh thiết nhỏ, huyết tương. Việc triển khai theo tiêu chuẩn ISO 15189:2022 bảo đảm độ tin cậy của xét nghiệm; các sự cố kỹ thuật chủ yếu có thể kiểm soát thông qua chuẩn hóa quy trình tiền phân tích và vận hành. Nguyễn Văn Duy Phạm Thị Thu Phương Phan Thị Liên Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 194 204 10.34071/jmp.2026.S-2.23 Đánh giá ảnh hưởng của thời gian lưu trữ mảnh cắt paraffin ở nhiệt độ phòng xét nghiệm đến tình trạng bộc lộ HER2 trong ung thư vú https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1564 Nhuộm hóa mô miễn dịch HER2 trên các mảnh cắt paraffin bảo quản lâu ngày ở nhiệt độ phòng có thể phản ánh không chính xác tình trạng HER2 của bệnh nhân. Mục tiêu: Đánh giá tình trạng bộc lộ HER2 trên các mảnh cắt paraffin trong ung thư vú được lưu trữ ở nhiệt độ phòng xét nghiệm (20-25°C) sau 1, 2, 4, 8 và 16 tuần. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu 63 trường hợp ung thư vú dương tính với HER2 (3+). Các mảnh cắt paraffin được nhuộm hóa mô miễn dịch sau 1, 2, 4, 8 và 16 tuần bảo quản ở nhiệt độ phòng xét nghiệm (20-25°C). Đánh giá tình trạng bộc lộ HER2 theo cường độ nhuộm và tỷ lệ tế bào u bắt màu hoàn toàn và đậm. Kết quả: Tình trạng bộc lộ HER2 giảm dần theo thời gian bảo quản mảnh cắt paraffin ở nhiệt độ phòng. Sau 1 tuần, toàn bộ 63 mẫu (100%) vẫn giữ cường độ 3+. Sau 2 tuần, tỷ lệ mẫu 3+ giảm còn 95,24%, có 4,76% mẫu 2+ (p = 0,83). Sau 4 tuần, tỷ lệ 3+ giảm còn 85,71%, có 12,70% mẫu 2+ và 1,59% mẫu 1+ (p = 0,04). Sau 8 tuần, có 61,90% mẫu 3+, 33,33% 2+, 4,76% mẫu 1+ (p < 0,01). Sau 16 tuần, tỷ lệ 3+ chỉ còn 28,57%, 55,55% mẫu 2+, 14,29% mẫu 1+ và 1,59% mẫu cường độ 0 (p < 0,01). Tỷ lệ tế bào u bắt màu hoàn toàn và đậm (tính tương đối so với tuần 0) giảm từ 100% xuống lần lượt 95,03%, 86,24%, 64,69%, 35,12% và 16,34% sau 1, 2, 4, 8 và 16 tuần. Kết luận: Đây là nghiên cứu đầu tiên về ảnh hưởng của thời gian lưu trữ mảnh cắt paraffin đến tình trạng bộc lộ HER2 trong ung thư vú tại Việt Nam. Các mảnh cắt nên được thực hiện xét nghiệm ngay sau khi cắt mảnh hoặc lưu trữ ≤ 2 tuần ở nhiệt độ phòng xét nghiệm (20 - 25°C). Nguyễn Văn Thỉnh Tạ Văn Tờ Trần Trung Toàn Dương Thị Ngọc Ánh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 205 211 10.34071/jmp.2026.S-2.24 Khảo sát nguyên nhân và một số đặc điểm dịch tễ các trường hợp đột tử do bệnh lý qua giám định pháp y tại Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh trong 6 tháng đầu năm 2025 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1565 Đặt vấn đề: Đột tử do bệnh lý là nhóm tử vong tự nhiên có ý nghĩa quan trọng trong thực hành pháp y vì thường xảy ra đột ngột, bất ngờ, nhiều trường hợp ngoài cơ sở y tế, không có đầy đủ diễn biến lâm sàng trước tử vong và cần được xác định nguyên nhân bằng giám định pháp y. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 120 trường hợp đột tử do bệnh lý được giám định pháp y tại Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2025 đến hết tháng 06/2025. Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ giám định, tiêu bản mô bệnh học và khối nến. Các biến số được phân tích gồm giới tính, nhóm tuổi, thể trạng, người chứng kiến, tình trạng nhập viện, hoạt động trước tử vong, thời điểm phát hiện tử vong, nguyên nhân theo hệ cơ quan và đặc điểm nhóm đột tử do bệnh lý tim mạch. Kết quả: Trong 120 trường hợp nghiên cứu, chủ yếu là nam giới (chiếm 77,5%), trên 40 tuổi (chiếm 75,8%), thể trạng trung bình (chiếm 55,8%), không có người chứng kiến (56,7%) và 90,0% tử vong trước nhập viện (90%). Tim mạch là nhóm nguyên nhân hàng đầu, chiếm 60,0%, tiếp theo là hô hấp 19,2%, thần kinh 14,2%, tiêu hóa 2,5% và các nguyên nhân khác 4,1%. Trong nhóm tim mạch, nhồi máu cơ tim/xơ vữa động mạch vành chiếm tỷ lệ cao nhất với 87,5%. So với nhóm không tim mạch, nhóm tim mạch có tỷ lệ có người chứng kiến cao hơn, 51,4% so với 31,3%, p = 0,029; tỷ lệ tử vong trước nhập viện cũng cao hơn, 94,4% so với 83,3%, p = 0,047. Kết luận: Bệnh lý tim mạch là nhóm nguyên nhân thường gặp nhất trong các trường hợp đột tử do bệnh lý được giám định pháp y. Nhồi máu cơ tim/xơ vữa động mạch vành chiếm tỷ lệ cao trong nhóm nguyên nhân tim mạch. Nghiên cứu góp phần cung cấp dữ liệu ban đầu về đặc điểm nguyên nhân và dịch tễ học pháp y của đột tử tự nhiên tại TP.HCM, nhưng cần nghiên cứu với thời gian dài hơn và cỡ mẫu lớn hơn. Âu Dương Quốc Uy Phạm Tấn Ân Nguyễn Minh Triệu Liêu Huyền Ân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 212 218 10.34071/jmp.2026.S-2.25 Thiết lập quy trình nuôi cấy organoid từ mô ung thư của bệnh nhân - Nền tảng cho điều trị cá thể hóa ung thư dạ dày https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1566 Đặt vấn đề: Ung thư dạ dày (UTDD) là bệnh lý ác tính phổ biến với tính không đồng nhất về sinh học phân tử và mô bệnh học, dẫn đến khác biệt trong đáp ứng điều trị và tiên lượng, từ đó đặt ra nhu cầu phát triển các chiến lược điều trị cá thể hóa. Mô hình organoid UTDD đóng vai trò quan trọng không chỉ nhờ khả năng mô phỏng chính xác cấu trúc và chức năng của khối u nguyên phát trong điều kiện in vitro mà còn mang đặc điểm riêng của từng bệnh nhân. Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm thiết lập quy trình nuôi cấy organoid UTDD. Đối tượng và phương pháp: Các mẫu mô ung thư của bệnh nhân sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh được phân tách cơ học, tiêu hóa bằng enzyme để thu nhận tuyến và nuôi cấy trong Matrigel. Organoid được đánh giá về hình thái, đặc điểm mô học bằng nhuộm H&E và biểu hiện các dấu ấn hóa mô miễn dịch (HMMD) MUC5AC và CD10. Kết quả: Chúng tôi đã thiết lập thành công 4 dòng organoid với hai dạng hình thái (đặc, nang), các organoid phát triển tốt có đường kính > 100 µm và duy trì ổn định qua 8 lần cấy chuyền. Kết quả nhuộm H&E và HMMD cho thấy organoid có đặc điểm tương đồng với khối u nguyên phát. Kết luận: Chúng tôi đã thiết lập thành công quy trình nuôi cấy organoid UTDD. Kết quả của nghiên cứu cho thấy tính khả thi và độ tin cậy của mô hình organoid, tạo nền tảng cho các nghiên cứu về sinh bệnh học khối u, đánh giá đáp ứng thuốc và phát triển các chiến lược điều trị cá thể hóa trong tương lai. Lê Hồng Ngân Phạm Quốc Thắng Đặng Trần Quân Trần Thu Thủy Bùi Nhật Vy Đặng Quang Thông Đoàn Thùy Nguyên Vũ Tuấn Dũng Hoàng Danh Tấn Ngô Quốc Đạt Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 219 226 10.34071/jmp.2026.S-2.26 Phân tích bước đầu đặc điểm mô bệnh học sẹo lồi và sẹo phì đại ở người Việt Nam trưởng thành https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1567 Mục tiêu: Mô tả và so sánh đặc điểm mô bệnh học giữa sẹo lồi và sẹo phì đại ở nhóm người Việt Nam trưởng thành. Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu kết hợp tiến cứu, mô tả, cắt ngang trên mẫu sẹo của 15 người bệnh tại Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác từ 10/2025 đến 5/2026. Quan sát và đánh giá tổn thương trên tiêu bản nhuộm hematoxylin và eosin soi trên kính hiển vi quang học. So sánh kết quả giữa sẹo lồi và sẹo phì đại, vùng trung tâm và vùng ngoại vi sẹo. Kết quả: Độ đồng thuận giữa chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán mô bệnh học đạt 93,3% với κ = 0,857. Sẹo lồi và sẹo phì đại đều biểu hiện tăng độ dày biểu bì, biến đổi và phẳng hóa gờ biểu bì. Sẹo lồi có mật độ tế bào viêm cao hơn sẹo phì đại ở cả vùng trung tâm và ngoại vi (p < 0,01), phản ứng viêm tại vùng ngoại vi nổi bật hơn. Collagen sẹo lồi xuất hiện ở 77,78% trường hợp sẹo lồi và không gặp ở sẹo phì đại (p = 0,007); một số trường hợp chỉ quan sát thấy collagen sẹo lồi tại vùng ngoại vi. Mạch máu định hướng vuông góc với bề mặt da có xu hướng xuất hiện nhiều ở sẹo phì đại (83,33%). Sẹo lồi thể hiện tính không đồng nhất mô học rõ rệt giữa các mẫu cũng như giữa các vùng trong cùng một mẫu. Kết luận: Sẹo lồi và sẹo phì đại có nhiều đặc điểm mô bệnh học khác biệt nhưng vẫn tồn tại sự chồng lấp hình thái đáng kể trên tiêu bản vi thể. Cần kết hợp thêm các chỉ dấu mô học và phương pháp đánh giá chuyên sâu nhằm nâng cao khả năng chẩn đoán phân biệt giữa sẹo lồi và sẹo phì đại. Nguyễn Đoàn Tiến Linh Khuất Duy Hoà Nguyễn Ngọc Chìu Cao Trung Kiên Nông Lý Đức Thanh Trần Danh Nhân Vũ Anh Ngự Lê Tài Thế Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 227 235 10.34071/jmp.2026.S-2.27 U tế bào tuyến yên: Báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1568 Bối cảnh: U tế bào tuyến yên là một u thần kinh đệm độ thấp hiếm gặp ở vùng yên và trên yên, có nguồn gốc từ các tế bào tuyến yên ở thùy sau và cuống tuyến yên, với số lượng ca được báo cáo trong y văn còn hạn chế. Do thiếu các đặc điểm hình ảnh học đặc hiệu và sự chồng lấp đáng kể về hình thái mô học với các tổn thương khác vùng yên, việc chẩn đoán trước mổ thường gặp nhiều khó khăn và dễ nhầm lẫn với các thực thể thường gặp hơn như u thần kinh nội tiết tuyến yên, u màng não hoặc u sao bào lông. Vì vậy, hóa mô miễn dịch đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chẩn đoán. Trình bày ca bệnh: Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam, 66 tuổi, nhập viện với chẩn đoán lâm sàng ban đầu là adenoma tuyến yên. Chụp cộng hưởng từ (MRI) não cho thấy một tổn thương choán chỗ trong và trên yên, kích thước 2 x 1,6 cm, gây chèn ép giao thoa thị. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt u. Sau phẫu thuật, bệnh nhân được lâm sàng theo dõi và xử lý các biến chứng hậu phẫu. Khảo sát mô bệnh học kết hợp nhuộm hóa mô miễn dịch các dấu ấn có kết quả: TTF-1(+), S100(+), Chromogranin(-), Synaptophysin(-), GFAP(-), Desmin(-) giúp xác định chẩn đoán u tế bào tuyến yên. Kết luận: U tế bào tuyến yên là một u lành tính hiếm gặp ở thùy sau tuyến yên với số lượng ca hạn chế, đặc biệt ở Việt Nam kèm dữ liệu lâm sàng và hình ảnh học không đặc hiệu. Trường hợp này nhấn mạnh thách thức trong chẩn đoán u tế bào tuyến yên trước mổ và vai trò thiết yếu của hóa mô miễn dịch, đặc biệt là dấu ấn TTF-1 trong việc phân biệt với các khối u vùng yên khác. Nguyễn Thị Kim Thoa Phạm Duy Quang Nguyễn Thị Mỹ Xuân An Phạm Quang Thông Nguyễn Bùi Ngọc Diệp Lê Minh Huy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 236 241 10.34071/jmp.2026.S-2.28 Carcinôm trong ống ở tuyến mang tai với đặc điểm gợi ý carcinôm chế tiết: Báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1569 Bối cảnh: Carcinôm trong ống (intraductal carcinoma, IDC) là một loại ung thư hiếm gặp của tuyến nước bọt, được đặc trưng bởi các đặc điểm mô bệnh học, hóa mô miễn dịch và biến đổi sinh học phân tử riêng biệt. Tuy nhiên, trong thực hành giải phẫu bệnh, việc chẩn đoán IDC có thể gặp nhiều khó khăn do sự giao thoa về hình thái và kiểu hình miễn dịch với một số loại ung thư tuyến nước bọt khác, đặc biệt là carcinôm chế tiết (secretory carcinoma, SC). Các đặc điểm như cấu trúc nang tuyến chứa chất tiết cùng sự biểu hiện của các dấu ấn S100, SOX10 và mammaglobin có thể xuất hiện ở cả hai loại u. Trong bối cảnh chưa có dữ liệu sinh học phân tử, việc phân loại chính xác các trường hợp có biểu hiện không điển hình trở thành một thách thức đáng kể. Chúng tôi báo cáo một trường hợp carcinôm trong ống tuyến mang tai với các đặc điểm hình thái và hóa mô miễn dịch gợi ý carcinôm chế tiết, qua đó nhấn mạnh những bẫy chẩn đoán và tầm quan trọng của việc tiếp cận tích hợp mô học, hóa mô miễn dịch và sinh học phân tử. Trình bày ca bệnh: Bệnh nhân nam, 54 tuổi, xuất hiện khối u vùng tuyến mang tai phải, tiến triển chậm trong vòng hai tháng. Chụp CT scan hàm - mặt cổ ghi nhận tổn thương rải rác vùng tuyến mang tai phải, giới hạn kém rõ, có nốt có thành phần dịch bên trong, kích thước lớn nhất khoảng 38x25mm. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt tuyến mang tai phải. Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy tổn thương với các đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch gợi ý carcinôm trong ống mang các đặc điểm thể lai/ống xen kẽ. Kết luận: Trường hợp này minh họa những giới hạn của các tiêu chí mô bệnh học và hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán các ung thư tuyến nước bọt hiếm. Việc tiếp cận tích hợp các đặc điểm vi thể, hóa mô miễn dịch và dữ liệu sinh học phân tử (nếu có thể) là cần thiết để đạt được chẩn đoán chính xác. Lư Thị Kiều Trang Lê Thị Quỳnh Mai Lư Bạch Kim Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 242 249 10.34071/jmp.2026.S-2.29 U Warthin nhồi máu (chuyển sản) sau sinh thiết lõi với đặc điểm mô học giống carcinôm nhầy bì: Báo cáo ca bệnh và hồi cứu y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1570 Bối cảnh: U Warthin là u lành của tuyến nước bọt phổ biến, phát triển chậm, không gây đau vị trí thường gặp nhất là tuyến nước bọt mang tai. U Warthin có thể bị nhồi máu hoặc chuyển sản do chấn thương hay sau khi chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) dẫn đến mô u bị tổn thương và hoại tử, các hình thái mô học đặc trưng của u bị thay thế dần bởi mô sợi viêm và biểu mô chuyển sản gai hoặc nhầy khiến việc chẩn đoán trở nên khó khăn và dễ nhầm lẫn với carcinôm nhầy bì. Trình bày ca bệnh: Chúng tôi báo cáo ca bệnh một bệnh nhân nam 65 tuổi nhập viện vì khối u vùng tuyến mang tai trái to dần kèm đau sau khi sinh thiết lõi được chuyển đến từ một cơ sở y tế khác để thực hiện phẫu thuật và được chẩn đoán là u tuyến Warthin nhồi máu (chuyển sản) sau khi phân tích mô học và điều tra tiền sử bệnh của bệnh nhân. Kết luận: Việc nhận diện các biến đổi mô học do nhồi máu của mô u kết hợp với các thông tin lâm sàng giúp tránh chẩn đoán quá mức thành một trường hợp ác tính Ngô Nhật Hoa Phạm Quốc Thắng Trần Thị Thanh Trúc Đỗ Thanh Thư Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 250 255 10.34071/jmp.2026.S-2.30 Chuyển sản biểu mô vảy lan tỏa trong ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú (PTC-SM): Thông báo một trường hợp và hồi cứu Y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1571 Báo cáo trường hợp Chuyển sản biểu mô vảy lan tỏa trong ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú (PTC-SM): Thông báo một trường hợp và hồi cứu Y văn Trần Hòa1*, Lê Hoàng Anh Đức2, Nguyễn Văn Vy Hậu3, Nguyễn Ngọc Sơn1 1 Khoa Xét nghiệm, Bệnh viện Đa khoa gia đình Đà Nẵng 2 Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng 3 Trung tâm Nội tiết, Bệnh viện Đa khoa Gia đình Đà Nẵng *Tác giả liên hệ (Corresponding author): Trần Hòa; Email: tranhoadok@gmail.com Ngày nhận bài (Received): 21/04/2026; Ngày duyệt đăng (Accepted): 08/06/2026; Ngày xuất bản (Published): 10/08/2026 DOI:10.34071/jmp.2026.S-2.31 Tóm tắt: Chuyển sản biểu mô vảy (SM) ở tuyến giáp là hiện tượng hiếm gặp, có thể gặp trong cả tổn thương lành tính và ác tính, cần phân biệt với ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú có biệt hóa tế bào vảy (PTC-SD) và ung thư tế bào vảy nguyên phát hoặc di căn. Trình bày ca bệnh: Chúng tôi báo cáo một trường hợp PTC có chuyển sản vảy lan tỏa ở bệnh nhân nữ 47 tuổi, có nhân thùy phải tuyến giáp, siêu âm ACR TI-RADS 5, không ghi nhận tổn thương cơ quan khác. FNA thể hiện ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú, bệnh nhân được cắt toàn bộ tuyến giáp. Mô bệnh học là PTC kinh điển xen kẽ nhiều ổ chuyển sản dạng vảy, không có bất thường tế bào vảy, thể hiện CK7, CK19 và p63 dương tính, TTF1 và CK20 âm tính ở vùng vảy. Kết luận: SM trong PTC là thách thức chẩn đoán, nhưng không làm thay đổi điều trị và tiên lượng so với PTC kinh điển nhưng cần phải phân biệt với các thực thể khác của ung thư tuyến giáp có biểu hiện tế bào vảy ác tính; sự phân biệt này rất có ý nghĩa trong quản lý bệnh nhân sau mổ. Trần Hòa Lê Hoàng Anh Đức Nguyễn Văn Vy Hậu Nguyễn Ngọc Sơn Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 256 260 10.34071/jmp.2026.S-2.31 Báo cáo ca bệnh và tổng quan y văn về một u nhú phổi nguyên phát đơn độc hỗn hợp biểu mô vảy và tuyến, có tăng hấp thu 18F-fluorodeoxyglucose https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1572 Bối cảnh: U nhú phổi chiếm dưới 1% các khối u phổi. Trong đó, u nhú phổi hỗn hợp tế bào vảy – tuyến (pulmonary mixed squamous and glandular papilloma - PMSGP) là típ hiếm nhất và dễ bị chẩn đoán nhầm, đặc biệt khi có tăng hấp thu 18F-fluorodeoxyglucose (FDG) trên PET/CT. Trình bày ca bệnh: Chúng tôi báo cáo bệnh nhân nam 48 tuổi, vào viện vì ho khan kéo dài. Chụp cắt lớp vi tính (CT) phát hiện khối u phổi phải ở ngoại vi, kích thước lớn (4,5 cm), bờ thùy múi. PET/CT ghi nhận tăng hấp thu FDG rất cao (Maximum Standardized Uptake Value (SUVmax): 26), gợi ý mạnh tổn thương ác tính. Vi thể gồm nhiều cấu trúc nhú với hai thành phần vảy dương tính với CK5/6, p63, CK19 và thành phần tuyến tuyến dương tính với CEA, TTF-1; Ki-67 thấp (< 1%), p53 hoang dại; BRAF, p16 và HPV-PCR âm tính, phù hợp với chẩn đoán PMSGP. Bệnh nhân không tái phát sau 3 năm theo dõi. Bàn luận: Đây là một trong những trường hợp PMSGP có SUVmax cao nhất được báo cáo kèm kích thước lớn và vị trí ngoại vi. Trường hợp này minh họa “bẫy chẩn đoán” trên PET/CT khi tổn thương lành tính có thể bắt FDG cao và giả dạng ung thư phổi. Ngoài ra, hoại tử và chất nhầy mô đệm có thể tạo hình ảnh giả xâm nhập, làm tăng nguy cơ chẩn đoán quá mức, đặc biệt trên sinh thiết nhỏ. Kết luận: PMSGP là thực thể hiếm nhưng có thể biểu hiện gợi ý ác tính. SUVmax cao không loại trừ tổn thương lành tính; cần đánh giá tích hợp lâm sàng, hình ảnh và mô bệnh học để tránh chẩn đoán nhầm và điều trị quá mức. Nguyễn Thị Hằng Thi Thị Duyên Nguyễn Thị Phương Lê Thị Trang Lê Thị Thanh Xuân Lê Xuân Chiến Nguyễn Ngọc Quang Đinh Văn Thuyết Yamada Homi Lê Thị Linh Kiều Thị Huyền Trang Ngô Thị Minh Hạnh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 261 269 10.34071/jmp.2026.S-2.32 Chuyển dạng sau điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ: Minh họa ca bệnh tại Bệnh viện Phổi Trung ương và đối chiếu y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1573 Mục tiêu: Mô tả chuyển dạng mô học sau điều trị đích ở ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN). Phương pháp: Báo cáo loạt ca bệnh tại Bệnh viện Phổi Trung ương và đối chiếu y văn về đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học, hóa mô miễn dịch, sinh học phân tử và điều trị. Kết quả: Ba người bệnh nữ, không hút thuốc, mắc ung thư biểu mô tuyến có đột biến ALK, EGFR; giai đoạn tiến xa. Sau 12 - 14 tháng điều trị TKI, tái sinh thiết thấy chuyển dạng sang ung thư biểu mô thần kinh nội tiết độ cao (tế bào lớn/tế bào nhỏ), hóa mô miễn dịch phù hợp, Ki67 cao và vẫn còn đột biến ban đầu. Điều trị tiếp theo với phác đồ cho ung thư chuyển dạng có đáp ứng. Kết luận: Chuyển dạng mô học là một cơ chế kháng thuốc ở UTPKTBN sau điều trị đích. Tái sinh thiết đóng vai trò thiết yếu trong chẩn đoán và định hướng điều trị. Trần Thị Tuấn Anh Lê Trung Thọ Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 270 276 10.34071/jmp.2026.S-2.33 Nang sinh phế quản ở dạ dày: Báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1574 Bối cảnh: Nang sinh phế quản ở dạ dày là dị dạng bẩm sinh cực kỳ hiếm với các đặc điểm hình ảnh học không đặc hiệu và sự chồng lấp với các tổn thương dạng nang hoặc u dưới niêm mạc khác tại dạ dày. Việc nhận diện chính xác thực thể này là cần thiết để đưa ra chiến lược xử trí phù hợp. Trình bày ca bệnh: Chúng tôi báo cáo trường hợp một bệnh nhân nữ, 64 tuổi, tình cờ phát hiện khối u dưới niêm mạc dạ dày trên nội soi. Kết quả cắt lớp vi tính ngực - bụng có cản quang ghi nhận khối đậm độ dịch cạnh đáy vị, có vôi hóa và không tăng quang. Chẩn đoán sơ bộ ban đầu hướng tới u mỡ vàng. Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật nội soi cắt trọn tổn thương. Đại thể ghi nhận nang chứa dịch nhầy vàng đục. Vi thể ghi nhận vách nang được lót bởi biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển, bên dưới có sự hiện diện của các tuyến pha, bó cơ trơn và mô sụn hyalin, không ghi nhận bằng chứng xâm lấn cấu trúc lân cận hay di căn hạch vùng, chẩn đoán xác định là nang sinh phế quản. Kết luận: Nang sinh phế quản dạ dày là một “cạm bẫy” chẩn đoán với các bác sĩ lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh. Báo cáo này nhấn mạnh các cạm bẫy chẩn đoán tiền phẫu của nang sinh phế quản, đồng thời khẳng định vai trò của cắt trọn và khảo sát mô bệnh học rộng rãi trong chẩn đoán xác định, nhằm định hướng xử trí phù hợp và tối ưu hóa kết cục cho người bệnh. Hồ Thị Hồng Phát Trần Hương Giang Trần Thị Thanh Trúc Nguyễn Đức Duy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 277 281 10.34071/jmp.2026.S-2.34 U túi noãn hoàng trung thất: Báo cáo một trường hợp hiếm gặp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1575 Bối cảnh: U túi noãn hoàng trung thất là một dạng u tế bào mầm ngoài tuyến sinh dục hiếm gặp, và điển hình xảy ra ở người trẻ. Bệnh có đặc điểm tiến triển nhanh, xâm lấn mạnh và tiên lượng xấu hơn rõ rệt so với các u tế bào mầm của tinh hoàn. Bệnh thường được phát hiện ở giai đoạn muộn với khối u kích thước lớn, gây chèn ép các cấu trúc trung thất và tăng cao các dấu ấn sinh học, đặc biệt là α-fetoprotein (AFP). Trình bày ca bệnh: Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nam 43 tuổi (nằm ngoài đỉnh tuổi của u túi noãn hoàng), nhập viện vì ho ra máu, đau ngực và sụt cân trong 1 tháng. Khám lâm sàng ghi nhận hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên với phù mặt, tuần hoàn bàng hệ vùng cổ ngực. Với tổn thương duy nhất tại trung thất và không phát hiện tổn thương ở cơ quan khác. Chẩn đoán bệnh nhân này cần có sự kết hợp của cả lâm sàng, hình ảnh học loại trừ tổn thương thứ phát, dấu ấn huyết thanh (AFP tăng rất cao, β-HCG bình thường) và hình ảnh vi thể (tế bào u dị dạng, sắp xếp dạng tuyến và vi nang, có các thể giống Schiller-Duval) và hoá mô miễn dịch ghi nhận SALL4 (+), CD117 (-), Glypican3 (+), AFP (+), cytokeratin (+), P63 (-), LCA (-) để chẩn đoán cuối cùng là u túi noãn hoàng nguyên phát của trung thất. Kết luận: U túi noãn hoàng trung thất là bệnh lý hiếm gặp nhưng ác tính cao với dịch tễ xảy ra ở người trẻ. Chẩn đoán u túi noãn hoàng ở người lớn gây khó khăn và cần sự phối hợp giữa lâm sàng, hình ảnh học, dấu ấn huyết thanh, hình ảnh vi thể và hóa mô miễn dịch để có chẩn đoán chính xác. Vũ Thị Hiếu Võ Triều Lý Nguyễn Thị Hoa Thái Đức Luân Nguyễn Cao Khôi Sang Đoàn Thị Phương Thảo Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 282 287 10.34071/jmp.2026.S-2.35 Biểu hiện CDX2 đối lập trong hai trường hợp carcinôm tuyến dạng giống u tuyến: Báo cáo ca bệnh hiếm gặp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1576 Bối cảnh: Carcinôm tuyến dạng giống u tuyến là một phân nhóm mới được bổ sung trong phân loại WHO. Đây là dạng ung thư rất hiếm, chiếm 3 - 9% các trường hợp carcinôm tuyến đại-trực tràng. Bệnh có đặc điểm mô học dễ gây nhầm lẫn với tổn thương lành tính nên thường dẫn đến nguy cơ bỏ sót hoặc chẩn đoán sai trên lâm sàng. Trình bày ca bệnh: Chúng tôi báo cáo hai trường hợp hiếm gặp với đặc điểm lâm sàng và mô học khác biệt. Trường hợp thứ nhất là bệnh nhân nữ 67 tuổi có tổn thương ở đại tràng trái. Khảo sát mô học cho thấy dạng carcinôm tuyến dạng giống u tuyến thuần túy với đặc trưng bờ đẩy, cấu trúc tuyến đồng nhất, không có phản ứng mô đệm rõ. Bệnh được chẩn đoán ở giai đoạn T2 và biểu hiện CDX2 thấp. Trường hợp thứ hai là bệnh nhân nam 64 tuổi, tổn thương tại trực tràng. Mô học ghi nhận sự hiện diện của thành phần carcinôm tuyến chế nhầy đi kèm với mức độ xâm lấn sâu hơn (giai đoạn T3), CDX2 biểu hiện cao. Kết luận: Carcinôm tuyến dạng giống u tuyến là một biến thể hiếm gặp có thể gây khó khăn trong chẩn đoán mô bệnh học do hình thái giống tổn thương tuyến lành tính. Hai trường hợp của chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận diện các tiêu chuẩn chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt thích hợp trong thực hành giải phẫu bệnh. Sự khác biệt về biểu hiện CDX2 được ghi nhận trong hai trường hợp này cho thấy tính không đồng nhất của bệnh. Lê Hồ Ngọc Trâm Hồ Thị Hồng Phát Giang Mỹ Ngọc Lê Minh Huy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 288 293 10.34071/jmp.2026.S-2.36 Ba khối ung thư biểu mô đại tràng nguyên phát với dưới típ mô bệnh học khác nhau - Báo cáo một trường hợp lâm sàng hiếm gặp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1577 Bối cảnh: Đa ung thư đại trực tràng nguyên phát là sự xuất hiện của nhiều hơn một khối u ác tính nguyên phát ở đại trực tràng, là một bệnh cảnh lâm sàng không thường gặp có thể gây khó khăn trong điều trị và tiên lượng. Chúng tôi báo cáo một trường hợp đa ung thư đại tràng nguyên phát đầu tiên được ghi nhận và điều trị thành công tại cơ sở của mình, với ba khối ung thư biểu mô tuyến thuộc ba dưới típ mô bệnh học khác nhau. Trình bày ca bệnh: Nữ giới 73 tuổi, đi khám vì đau bụng và mệt mỏi kéo dài. Kết quả nội soi cho thấy bệnh nhân có ba khối u ở đại tràng lên và đại tràng ngang. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt nửa đại tràng phải mở rộng. Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ là ba khối ung thư biểu mô đại tràng nguyên phát với dưới típ mô bệnh học khác nhau là ung thư biểu mô không biệt hóa, ung thư biểu mô tuyến nhầy và ung thư biểu mô tuyến thông thường. Theo dõi 15 tháng sau mổ không có tái phát. Kết luận: Đa ung thư đại trực tràng nguyên phát có sự phức tạp về lâm sàng và giải phẫu bệnh. Cần nâng cao nhận thức cũng như có thêm các nghiên cứu chuyên sâu về thực thể này. Lương Việt Bằng Nguyễn Thị Phương Anh Phạm Thị Thảo Phương Trịnh Tuấn Dũng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 294 298 10.34071/jmp.2026.S-2.37 Bệnh giãn mạch máu ở gan giả di căn gan ở bệnh nhân ung thư đại tràng: báo cáo ca bệnh và thách thức chẩn đoán https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1578 Bối cảnh: Bệnh giãn mạch máu ở gan (Peliosis hepatis) là một bệnh lý hiếm gặp của gan, đặc trưng bởi sự xuất hiện của các khoang chứa máu trong nhu mô gan, có thể giả hình ảnh các tổn thương ác tính trên chẩn đoán hình ảnh. Trình bày ca bệnh: Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam 42 tuổi được phát hiện tổn thương gan đa ổ trong quá trình đánh giá giai đoạn ung thư đại tràng ngang. Hình ảnh CT và MRI gợi ý tổn thương ác tính, nghi ngờ di căn gan, tuy nhiên PET/CT lại không ghi nhận tăng hấp thu FDG tại gan. Sinh thiết kim tại tổn thương không phát hiện tế bào ác tính, chủ yếu ghi nhận hoại tử và sung huyết. Sau phẫu thuật cắt đoạn đại tràng và hạ phân thùy gan chứa tổn thương, hình ảnh mô bệnh học nổi bật các khoang chứa máu trong nhu mô gan, không có lớp nội mô lót rõ, phù hợp với chẩn đoán Bệnh giãn mạch máu ở gan. Kết luận: Bệnh giãn mạch máu ở gan trong bối cảnh bệnh nhân có ung thư, có thể giả tổn thương di căn gan, gây khó khăn đáng kể trong chẩn đoán. Việc phối hợp chặt chẽ giữa lâm sàng, hình ảnh học và giải phẫu bệnh có vai trò then chốt trong xác định chẩn đoán chính xác, tránh điều trị không cần thiết. Lê Hải Giang Dương Đình Toản Nguyễn Văn Hưng Lê Xuân Lượng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 299 303 10.34071/jmp.2026.S-2.38 Ung thư biểu mô tế bào thận loại ưa toan, dạng đặc và nang: Báo cáo ca bệnh hiếm gặp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1579 Bối cảnh: Ung thư biểu mô tế bào thận loại ưa toan, dạng đặc và nang (Eosinophilic Solid and Cystic Renal Cell Carcinoma - ESC RCC) là một thực thể hiếm, mới được công nhận trong phân loại u hệ tiết niệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2022. Khối u thường gặp ở nữ giới trung niên và có các đặc điểm mô bệnh học cũng như hóa mô miễn dịch khá đặc trưng. Trình bày ca bệnh: Bệnh nhân nữ 49 tuổi được phát hiện khối u thận phải dạng nang Bosniak IV trên chẩn đoán hình ảnh. Đại thể cho thấy khối u kích thước 5,5 cm, cấu trúc đặc xen kẽ các nang chứa máu. Vi thể ghi nhận các tế bào u có bào tương rộng, dạng hạt ưa toan, nhân tròn tương đối đồng đều, sắp xếp thành cấu trúc đặc và nang. Các nang thường chứa nhiều hồng cầu và một số vùng được lót bởi tế bào dạng hobnail. Hóa mô miễn dịch cho thấy các tế bào u dương tính với PAX8, CK, CD10 và vimentin; âm tính với CK7, CK20, RCC, EMA và CD117. Chỉ số tăng sinh Ki67 khoảng 2%. Kết luận: Các đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch phù hợp với chẩn đoán Ung thư biểu mô tế bào thận loại ưa toan, dạng đặc và nang. Việc nhận diện chính xác thực thể này có ý nghĩa quan trọng nhằm tránh nhầm lẫn với các khối u thận ưa toan khác. Lê Thị Yến Nguyễn Thị Vân Anh Nguyễn Thu Liên Trịnh Tuấn Dũng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 304 309 10.34071/jmp.2026.S-2.39 Sarcôm tạo xương nguyên phát của thận: Báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1580 Bối cảnh: Sarcôm tạo xương nguyên phát của thận là tân sinh ác tính rất hiếm gặp, chiếm < 1% tất cả các khối u thận nguyên phát. Theo hiểu biết tốt nhất của chúng tôi, đến nay chỉ có dưới 30 trường hợp được báo cáo trong y văn kể từ năm 1936. Bệnh thường được chẩn đoán ở giai đoạn muộn và khoảng 32% bệnh nhân có di căn, do đó tiên lượng chung rất kém. Các chiến lược điều trị như phẫu thuật, hóa trị và xạ trị có tác dụng giảm nhẹ đối với khối u này. Trình bày ca bệnh: Trong bài báo này, chúng tôi trình bày một trường hợp sarcôm tạo xương nguyên phát của thận ở một bệnh nhân nam 56 tuổi. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt thận toàn phần kết hợp hóa xạ trị. Sau điều trị, tổng trạng bệnh nhân ổn định, không ghi nhận các biến chứng từ việc điều trị, thời gian sống còn không u ghi nhận đến hiện tại là 1 năm. Kết luận: Việc chẩn đoán xác định cần dựa trên bối cảnh lâm sàng, hình ảnh học, mô bệnh học và hóa mô miễn dịch. Vì đây là một thực thể rất hiếm gặp, các bác sĩ giải phẫu bệnh nên cắt lọc cẩn thận và xem xét các chẩn đoán phân biệt khác, đặc biệt là carcinôm dạng sarcôm, để tránh chẩn đoán nhầm. Nguyễn Phúc Thục Uyên Giang Mỹ Ngọc Bùi Thị Thanh Tâm Võ Quang Thái Bùi Phương Quỳnh Lê Trọng Hiếu Nguyễn Ngọc Minh Tâm Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 310 314 10.34071/jmp.2026.S-2.40 U cận hạch giao cảm ở bàng quang: Báo cáo một trường hợp và hồi cứu y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1581 Đặt vấn đề: U cận hạch giao cảm (Paraganglioma) ở bàng quang là loại u cực kỳ hiếm gặp, chiếm tỉ lệ dưới 0,06% các u ở bàng quang. Do triệu chứng và hình ảnh không đặc hiệu, bệnh thường bị chẩn đoán nhầm thành ung thư biểu mô đường niệu, nguy cơ xảy ra biến chứng tim mạch nghiêm trọng trong quá trình can thiệp. Trình bày ca bệnh: Bệnh nhân nam, 56 tuổi, tiền sử tăng huyết áp và đái tháo đường; triệu chứng đái máu và đái buốt. Chụp cộng hưởng từ thấy thành bàng quang lệch trái, gần cổ bàng quang có u (10 x 14 x 15 mm), bờ đều, sùi vào lòng bàng quang. Soi bàng quang thấy vị trí 12 h, sát cổ bàng quang có khối u (30 x 10 mm), cuống rộng, dạng polyp. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt u bàng quang qua nội soi niệu đạo (TURBT). Kết quả mô bệnh học cho thấy tế bào u có nhân nhỏ, đều; bào tương rộng, dạng hạt, sắp xếp tạo thành các ổ, ngăn cách bởi các vách xơ giàu mạch, gợi cấu trúc “Zellballen”. Hóa mô miễn dịch dương tính mạnh, lan toả với Chromogranin; dương tính với S100 và âm tính với Synaptophysin, CK, GATA3. Chẩn đoán là U cận hạch giao cảm ở bàng quang, PASS: 0 điểm. Kết luận: Chẩn đoán xác định u cận hạch giao cảm ở bàng quang dựa chủ yếu vào đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch. Phẫu thuật TURBT là lựa chọn hiệu quả cho khối u nhỏ (< 30 mm). Áp dụng hệ thống phân độ cho u tủy thượng thận và u cận hạch giao cảm (GAPP) là cần thiết trong dự báo tiềm năng di căn. Theo dõi nên được thực hiện định kỳ, ít nhất trong 10 năm. Nguyễn Văn Thuấn Lê Thị Dung Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 315 320 10.34071/jmp.2026.S-2.41 Bệnh Erdheim-Chester có đột biến BRAF V600E: Báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1582 Bối cảnh: Bệnh Erdheim-Chester là bệnh mô bào không Langerhans hiếm gặp, đặc trưng bởi thâm nhiễm mô bào đa cơ quan. Sự đồng mắc với hội chứng tăng sinh tủy rất hiếm và gợi ý mối liên hệ giữa tân sinh mô bào và tân sinh dòng tủy. Trình bày ca bệnh: Bệnh nhân nam, 68 tuổi, nhập viện vì nhìn đôi (song thị) tiến triển trên nền hội chứng tăng sinh tủy đang điều trị Hydroxyurea. Xét nghiệm ghi nhận tăng tiểu cầu kéo dài và đột biến CALR type 1. Hình ảnh học cho thấy thâm nhiễm quanh thận tạo hình ảnh “thận lông”, mô mềm quanh động mạch chủ tạo hình ảnh “áo khoác quanh động mạch chủ” và xơ hóa đối xứng xương dài. Sinh thiết mô quanh thận ghi nhận tế bào dạng mô bào dương tính với CD68, âm tính với CD1a và S100. Giải trình tự gen thế hệ mới phát hiện đột biến BRAF V600E. Bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Erdheim-Chester kết hợp hội chứng tăng sinh tủy mang đột biến CALR type 1. Tình trạng lâm sàng ổn định sau điều trị nâng đỡ. Kết luận: Trường hợp này nhấn mạnh vai trò của hình ảnh học, mô bệnh học, hóa mô miễn dịch và giải trình tự gen trong chẩn đoán bệnh Erdheim-Chester và định hướng điều trị nhắm trúng đích. Phạm Duy Quang Nguyễn Bùi Ngọc Diệp Nguyễn Thị Mỹ Xuân An Trần Hương Giang Ngô Thị Tuyết Hạnh Lê Minh Huy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 321 327 10.34071/jmp.2026.S-2.42 Sarcôm sợi bì lồi ở vú: Báo cáo một trường hợp hiếm gặp và hồi cứu y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1583 Bối cảnh: Sarcôm sợi bì lồi (Dermatofibrosarcoma protuberans - DFSP) là tân sinh ác tính của mô mềm, đặc trưng bởi sự phát triển chậm, xâm lấn tại chỗ và thường gặp ở lớp bì của da. Mặc dù u có thể xuất hiện ở bất kỳ vùng nào trên cơ thể, vị trí hay gặp nhất là thân mình và chi. DFSP ở vú rất hiếm gặp, với chỉ một vài trường hợp được báo cáo trong y văn. Trình bày ca bệnh: Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 24 tuổi, được chẩn đoán sarcôm sợi bì lồi ở vú, bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt rộng mô u với các rìa diện cắt âm tính. Sau điều trị, bệnh nhân không ghi nhận tái phát hoặc di căn tính đến thời điểm hiện tại là 6 tháng. Kết luận: DFSP có thể có đặc điểm mô học dễ gây nhầm lẫn với các khối u tế bào hình thoi khác thường gặp ở vú, do đó, việc chẩn đoán chính xác có thể là một thách thức trong thực hành lâm sàng. Việc chẩn đoán cần sự phối hợp giữa hình ảnh mô bệnh học và hóa mô miễn dịch. Nguyễn Phúc Thục Uyên Trần Như Tùng Nguyễn Văn Thái Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 328 332 10.34071/jmp.2026.S-2.43 U nguyên bào xương ở xương sườn: Báo cáo ca bệnh và tổng quan y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1584 U nguyên bào xương (osteoblastoma) là một loại u sinh xương hiếm gặp, chiếm khoảng 1% các u xương nguyên phát. Tổn thương thường gặp ở cột sống, trong khi xương sườn là vị trí rất hiếm gặp. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nữ 41 tuổi nhập viện vì đau vùng hông lưng trái. Trên X quang ghi nhận tổn thương tăng đậm độ, chồng hình ở cung sườn sau số 9 bên trái. Chụp cắt lớp vi tính ghi nhận khối tổn thương tăng đậm độ không đồng nhất tại cung sườn 9 bên trái, giới hạn tương đối rõ, kích thước 4,1 × 3,9 cm, chèn ép mô kế cận kèm dày màng phổi bên trái. Bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật nạo bỏ toàn bộ tổn thương. Đánh giá đại thể ghi nhận nhiều mẫu mô vụn, màu nâu đỏ, mật độ cứng như xương, tổng kích thước khoảng 4 cm. Trên vi thể ghi nhận các bè xương non mảnh, sắp xếp kết nối với nhau, có viền nguyên bào xương bao quanh. Các nguyên bào xương hình đa diện, có nhân hình bầu dục hoặc dẹt, nhân sáng, tương đối đồng dạng, hạt nhân nhỏ, nằm trong trong mô đệm giàu mạch máu. Không hiện diện phân bào hay phân bào bất thường, và không có hoại tử u. Bài viết này nhằm nhấn mạnh một u dạng tạo xương xương hiếm gặp trên bệnh nhân lớn tuổi, và xuất hiện tại vị trí không điển hình, dễ gây nhầm lẫn với các tổn thương lành tính cũng như ác tính khác ở xương trong thực hành lâm sàng - giải phẫu bệnh. Trang Chấn Long Trần Anh Thư Dương Thanh Tú Nguyễn Vũ Thiện Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 333 338 10.34071/jmp.2026.S-2.44 U tuyến mồ hôi dạng tế bào sáng không điển hình có tổn thương hạch lympho: Báo cáo ca bệnh và hồi cứu y văn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1585 Trước đây, “di căn” thường chỉ được dùng để mô tả sự lan rộng của các khối u ác tính, nhưng các nghiên cứu gần đây đã phát hiện rằng hiện tượng mô u lành tính hiện diện trong các hạch bạch huyết hoặc các cơ quan xa, tương tự như các khối u ác tính. Và thuật ngữ “di căn lành tính” xuất hiện ngày càng nhiều. Nhiều giả thuyết đã được đưa ra nhằm lý giải cơ chế của hiện tượng này, tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh cãi. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam 69 tuổi đến khám vì khối vùng bẹn phải. Kết quả tầm soát toàn thân không phát hiện bất thường tại gan, phổi, não, dạ dày, đại tràng, tinh hoàn và tuyến tiền liệt. Tổn thương đại thể kích thước 20 x 15 x 10 mm, mặt cắt trắng ngà, đồng nhất, lấm tấm nâu. Xét nghiệm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch giúp hỗ trợ chẩn đoán u tuyến mồ hôi dạng tế bào sáng xâm nhập hạch. Ba tháng sau hậu phẫu, siêu âm không còn tổn thương, sẹo mổ đẹp. Thái Thị Thu Nga Lê Hồ Ngọc Trâm La Hoài Thành Ngô Thị Tuyết Hạnh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 339 343 10.34071/jmp.2026.S-2.45 Biến đổi mô bệnh học các tạng ở một trường hợp tử vong do nhiễm não mô cầu: Báo cáo ca bệnh qua tử thiết pháp y https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1586 Bối cảnh: Nhiễm não mô cầu là bệnh nhiễm trùng hệ thống tiến triển nhanh, có thể gây sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng và tử vong trong thời gian ngắn. Các biểu hiện ban đầu thường không đặc hiệu, làm cho chẩn đoán sớm gặp nhiều khó khăn. Trong thực hành pháp y, các trường hợp tử vong nhanh ở người trẻ cần được đánh giá bằng sự phối hợp giữa tử thiết, mô bệnh học và xét nghiệm vi sinh - sinh học phân tử. Trình bày ca bệnh: Chúng tôi báo cáo trường hợp nam quân nhân 19 tuổi, tiền sử khỏe mạnh, khởi phát đột ngột với sốt cao 39 - 40°C, mệt mỏi và ban xuất huyết lan nhanh. Người bệnh nhanh chóng diễn tiến sốc nhiễm khuẩn, ngừng tuần hoàn và tử vong sau khoảng 12 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên dù đã được hồi sức tích cực. Do tử vong nhanh ở người trẻ và nguyên nhân ban đầu chưa rõ, cơ quan chức năng trưng cầu giám định pháp y. Tử thiết pháp y được thực hiện tại Bệnh viện Quân y 175 bởi Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh sau khoảng 4 giờ kể từ khi tử vong, theo hồ sơ số 229/2025/KLGĐTT-PY. Xét nghiệm độc chất trong máu âm tính; Real-time PCR dịch não tủy sau tử vong dương tính với Neisseria meningitidis. Tử thiết và mô bệnh học ghi nhận viêm màng não mủ, phù não, ban xuất huyết hoại tử ngoài da kèm vi huyết khối dưới da, phù phổi cấp kèm xuất huyết và vi huyết khối trong mạch máu nhỏ của phổi, hoại tử đông và hoại tử sợi cơ tim dạng dải co, hoại tử ống thận cấp, hoại tử tế bào gan rải rác kèm thâm nhiễm viêm nhẹ, xuất huyết lan tỏa tuyến thượng thận hai bên phù hợp hội chứng Waterhouse-Friderichsen và sung huyết các tạng. Kết luận: Ca bệnh cho thấy nhiễm não mô cầu có thể gây tử vong rất nhanh ở người trẻ với tổn thương đa cơ quan. Sự phối hợp giữa hoàn cảnh tử vong, tử thiết pháp y, mô bệnh học và Real-time PCR dịch não tủy sau tử vong có giá trị quan trọng trong xác định căn nguyên và củng cố kết luận nguyên nhân chết trong các trường hợp nhiễm trùng tối cấp. Âu Dương Quốc Uy Nguyễn Minh Triệu Phạm Tân Ân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 344 348 10.34071/jmp.2026.S-2.46 Suy đa tạng không hồi phục sau ong bắp cày đốt: Báo cáo ca bệnh qua tử thiết pháp y https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1587 Bối cảnh: Ong bắp cày đốt có thể gây phản ứng toàn thân nặng, sốc, rối loạn đông máu, tổn thương đa cơ quan và tử vong. Trong giám định pháp y, việc xác định nguyên nhân chết cần dựa trên sự kết hợp giữa hoàn cảnh sự việc, diễn biến lâm sàng, cận lâm sàng, tử thiết, mô bệnh học và độc chất học. Trình bày ca bệnh: Chúng tôi báo cáo trường hợp nam 47 tuổi bị ong bắp cày đốt lúc 17 giờ 40 phút ngày 09/5/2025, nhập viện lúc 19 giờ cùng ngày và tử vong lúc 02 giờ 35 phút ngày 10/5/2025. Người bệnh được hồi sức tích cực, thở máy, lọc máu liên tục và dùng vận mạch. Cận lâm sàng ghi nhận bạch cầu tăng, rối loạn đông máu nặng với PT, INR, APTT kéo dài và D-dimer tăng; khí máu cho thấy toan chuyển hóa nặng, lactate tăng và giảm oxy máu. Sinh hóa máu ghi nhận creatinin tăng, eGFR giảm, AST/ALT tăng rất cao, tăng kali máu; CK-MB và troponin I tăng rõ. Tử thiết pháp y được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày bởi Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh; hồ sơ giám định được lưu theo mã số 138/2025/KLGĐTT-PY. Tử thiết ghi nhận khoảng 100 vết đốt trên cơ thể, hai phổi phù, xuất huyết dưới thanh mạc phổi và dịch hồng loãng trong đường thở. Mô bệnh học ghi nhận da vùng vết đốt phù viêm, não phù, cơ tim có hoại tử sợi cơ tim dạng dải co kèm thâm nhiễm lympho bào mô kẽ, phổi phù kèm thâm nhập tế bào viêm cấp và nhiều vi huyết khối trong các mạch máu nhỏ, gan thoái hóa mỡ rải rác. Kết luận: Ca bệnh cho thấy ong bắp cày đốt với số lượng nhiều có thể gây phản ứng toàn thân nặng, diễn tiến nhanh đến suy đa tạng không hồi phục. Sự đối chiếu giữa cận lâm sàng và mô bệnh học cho thấy tổn thương tim, phổi, gan, não và rối loạn đông máu có vai trò quan trọng trong bệnh cảnh tử vong. Trong giám định pháp y, cần phối hợp đầy đủ dữ kiện lâm sàng, cận lâm sàng, tử thiết, mô bệnh học và độc chất học để củng cố nhận định nguyên nhân chết. Âu Dương Quốc Uy Nguyễn Minh Triệu Nguyễn Quang Anh Phạm Tấn Ân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 2026-08-10 2026-08-10 16 S-2 349 353 10.34071/jmp.2026.S-2.47