Tạp chí Y Dược Huế https://huejmp.vn/index.php/journal <p><strong>Giấy phép xuất bản: 207/GP-BTTTT ngày 12 tháng 06 năm 2023<br />ISSN: 3030-4318 - eISSN: 3030-4326 - DOI: 10.34071/jmp</strong></p> <p>Tạp chí Y Dược Huế, Trường Đại học Y-Dược, Đại học Huế là một tạp chí mang bản sắc riêng và mang tính đặc thù nghề nghiệp của Trường Đại học Y Dược Huế nhằm mục đích phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học và cập nhật thông tin về lĩnh vực y dược cho cán bộ y tế ở miền Trung, Tây Nguyên và cho cả nước.</p> <p>Tạp chí được xếp vào danh mục các Tạp chí Khoa học được tính điểm công trình với số điểm là từ 0 – 1,0 điểm/công trình trong danh mục khoa học của Hội đồng Giáo sư ngành Y và 0 – 0,75 điểm/công trình trong danh mục khoa học Hội đồng Giáo sư ngành Dược.</p> <div> <div>Tạp chí Y Dược Huế tiền thân là Tạp chí Y Dược học (ISSN 1859-3836) ra đời và hoạt động từ 2011-2023 với giấy phép hoạt động số 1720/GP-BTTTT ngày 15/11/2010. Sau tháng 6/2023, Tạp chí Y Dược học đổi tên thành Tạp chí Y Dược Huế với giấy phép xuất bản số 207/GP-BTTTT ngày 12/6/2023 ở hai loại hình báo chí in và điện tử.</div> <div>Xem các số đã xuất bản tại Tạp chí Y Dược học <a href="http://jmp.huemed-univ.edu.vn" target="_blank" rel="noopener">tại đây</a>.</div> </div> vi-VN tcydhue@huemed-univ.edu.vn (Ban Biên tập Tạp chí Y Dược Huế) tcydhue@huemed-univ.edu.vn (Thư ký toà soạn) Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 OJS 3.3.0.17 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Bacteriocin từ vi khuẩn và tụ cầu coagulase âm tính: tiềm năng ứng dụng và thách thức https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/819 <p>Bacteriocin là các polypeptide sinh học có khả năng ức chế nhiều loài vi sinh vật khác nhau. Trong tự nhiên,<br>nhiều loại vi khuẩn có thể sinh bacteriocin như tụ cầu coagulase âm tính (coagulase-negative Staphylococci:<br>CoNS). Đây là nhóm vi khuẩn thường trú phổ biến trên da và niêm mạc của con người. Chúng có khả năng sản<br>sinh nhiều hoạt chất kháng khuẩn như acid lactic, staphylococcin (một loại bacteriocin) tạo môi trường bất<br>lợi, từ đó ức chế sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh. Bài viết nhằm tổng hợp những vấn đề liên quan<br>đến bacteriocin do các vi khuẩn trong đó tập trung nhóm do CoNS tiết ra. Nhiều thành tựu gần đây trong<br>nghiên cứu đặc tính kháng khuẩn bacteriocin từ CoNS trong đó có staphylococcin đã mở ra tiềm năng ứng<br>dụng trong y học, đặc biệt là trong kiểm soát nhiễm khuẩn và thay thế kháng sinh truyền thống. Tuy nhiên,<br>vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua để hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động, an toàn và hiệu quả của các<br>bacteriocin này trước khi áp dụng rộng rãi.</p> Nguyễn Thị Châu Anh, Lê Văn An, Ngô Viết Quỳnh Trâm, Võ Đại Học, Dương Thị Ngọc Mai, Nguyễn Thị Tuyền, Đinh Thị Hải, Nguyễn Đức Huy, Trần Đình Bình Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/819 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Ứng dụng cộng hưởng từ khuếch tán bó sợi chất trắng trong phẫu thuật u não https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/820 <p>Bài viết này nhằm làm nổi bật tầm quan trọng và ứng dụng của kỹ thuật cộng hưởng từ khuếch tán bó sợi thần kinh (DTI) trong phẫu thuật các khối u não. Kỹ thuật DTI rất quan trọng để hiện thị chính xác bản đồ các vùng chất trắng, cho phép bác sĩ phẫu thuật thần kinh tránh được các cấu trúc não quan trọng trong quá trình phẫu thuật cắt bỏ khối u, do đó giảm thiểu các khiếm khuyết về thần kinh sau phẫu thuật và cải thiện kết quả của bệnh nhân. Chúng tôi đề cập đến nguyên lý cơ bản của kỹ thuật DTI, dựng hình bó sợi chất trắng (tractography) và ứng dụng những hình ảnh này trong bối cảnh phẫu thuật khối u não. Kỹ thuật DTI tăng cường đáng kể độ chính xác của phẫu thuật. Với hình ảnh chi tiết về đường đi chất trắng, bác sĩ phẫu thuật có thể lập kế hoạch và thực hiện cắt bỏ khối u hiệu quả hơn, giúp bảo tồn chức năng thần kinh tốt hơn. Các nghiên cứu lâm sàng và báo cáo ca bệnh được xem xét trong bài viết này cho thấy tỉ lệ biến chứng phẫu thuật giảm và khả năng phục hồi sau phẫu thuật được cải thiện khi sử dụng kết hợp với hình ảnh tái tạo bó sợi chất trắng. Ngoài ra những tiến bộ trong công nghệ thu nhận và thuật toán xử lý hình ảnh được kỳ vọng sẽ nâng cao hơn nữa tiện ích và hiệu quả của DTI</p> Hoàng Ngọc Thành, Trà Tấn Hoành, Nguyễn Thanh Thảo Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/820 Sat, 03 Jan 2026 00:00:00 +0700 Tần suất xuất hiện một số chứng trạng và chứng hậu trên lâm sàng theo y học cổ truyền ở bệnh nhân loét dạ dày tá tràng https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/824 <p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Loét dạ dày tá tràng (LDDTT) là bệnh mạn tính thường gặp, dễ tái phát và có nhiều biến chứng nguy hiểm. Theo y học cổ truyền, các triệu chứng mô tả trong bệnh loét dạ dày tá tràng thuộc phạm trù “Vị quản thống”. Để góp phần giúp cho các y bác sĩ có thể định hướng trong thăm khám và kết hợp trong điều trị bệnh này hiệu quả hơn chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu: khảo sát tần suất xuất hiện một số chứng trạng và chứng hậu trên lâm sàng theo y học cổ truyền và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến các chứng hậu của bệnh loét dạ dày tá tràng tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Gồm 142 bệnh nhân được chẩn đoán loét dạ dày tá tràng tại khoa Nội tổng hợp - Nội tiết - Cơ xương khớp và Trung tâm tiêu hoá - nội soi Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Độ tuổi trung bình 57,5 ± 16,83, nhóm tuổi từ 51 - 70 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất. Bệnh nhân bị loét ở tá tràng chiếm tỷ lệ cao nhất là 51,2%, tiếp đến là loét ở dạ dày chiếm 34,5% và chiếm tỷ lệ thấp nhất là loét ở cả dạ dày và tá tràng với 13,4%. Vị trí ổ loét thường gặp nhất ở dạ dày là hang vị chiếm 69,1%, tiếp đến là bờ cong lớn với 11,8%, bờ cong nhỏ với 10,3%, hang môn vị với 5,9% và môn vị chiếm tỷ lệ thấp nhất là 2,9%. Về lưỡi: chất lưỡi đỏ 38,7%, rêu lưỡi trắng 59,2%, rêu lưỡi dày 51,4%, rêu lưỡi khô 36,6% chiếm tỷ lệ cao nhất. Về mạch: mạch phù 59,8%, mạch đới sác 40,1%, mạch hữu lực 80,8% chiếm phần lớn. Các thể lâm sàng theo y học cổ truyền là: thể khí uất 43%, thể huyết ứ 26,1%, thể hoả uất 19,7% và thể tỳ vị hư hàn 11,3%. Thể hoả uất có thời gian mắc bệnh dưới 6 tháng và thể tỳ vị hư hàn có thời gian mắc bệnh trên 1 năm cao hơn các thể còn lại (p &lt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Qua đánh giá thương tổn, bệnh nhân bị loét ở tá tràng là hay gặp nhất. Các chứng trạng thể hiện phần lớn bệnh nhân có thực nhiệt và bệnh tà đang ở lý. Hai thể khí uất và thể huyết ứ thường hay gặp nhất. Có mối liên quan giữa các thể lâm sàng và thời gian mắc bệnh, màu sắc chất lưỡi, màu sắc rêu lưỡi và tần số mạch (p &lt; 0,05).</p> Nguyễn Ngọc Lê, Phan Thị Hồng Phượng, Võ Thị Diệp Linh, Nguyễn Thiện Phước, Lê Quốc Anh Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/824 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Xây dựng phương pháp định lượng levetiracetam trong huyết tương bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/825 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Levetiracetam là thuốc chống co giật. Phương pháp định lượng levetiracetam trong huyết tương bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao đã được thực hiện nhưng không sử dụng chuẩn nội hoặc có sử dụng chuẩn nội nhưng chưa thực sự phù hợp.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>Xây dựng phương pháp<strong>&nbsp;</strong>định lượng và thẩm định phương pháp<strong>&nbsp;</strong>đã xây dựng.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong>&nbsp;Huyết tương chứa levetiracetam. Sau khi xây dựng quy trình xử lý mẫu và khảo sát lựa chọn điều kiện sắc ký, phương pháp được thẩm định theo US - FDA và EMA.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Protein trong mẫu huyết tương chứa levetiracetam và chuẩn nội piracetam được tủa bằng ZnSO<sub>4</sub>&nbsp;và NaOH. Điều kiện sắc ký: Cột C18 (250 mm x 4,6 mm, 5 µm), tốc độ dòng 1 ml/phút, nhiệt độ cột 25 <sup>o</sup>C, thể tích tiêm 100 µl, bước sóng phát hiện 205 nm, pha động là hỗn hợp dung dịch acid phosphoric pH 2,5 và methanol với chương trình gradient. Phương pháp được thẩm định đạt yêu cầu theo US - FDA và EMA.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Phương pháp có thể được áp dụng trong nghiên cứu tương đương sinh học chế phẩm thuốc chứa levetiracetam.</p> Nguyễn Thị Như Ngọc, Bạch Ngọc Toàn Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/825 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Nghiên cứu chỉ số CRP/Albumin huyết thanh ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/826 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Khảo sát chỉ số CRP/albumin huyết thanh (CRP/Albumin Ratio: CAR) và mối liên quan giữa chỉ số CRP/albumin huyết thanh với mức độ tổn thương động mạch vành, nồng độ hs-Troponin T huyết thanh (hs-TnT), phân suất tống máu thất trái (LVEF), rối loạn vận động vùng trên siêu âm tim ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim (NMCT).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 98 bệnh nhân NMCT tại Khoa Cấp cứu Tim mạch - Can thiệp, Bệnh viện Trung ương Huế từ ngày 06/03/2024 đến ngày 06/09/2024.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Độ tuổi trung bình là 66,53 ± 11,27, tỷ lệ NMCT ST chênh lên chiếm 45,5% và NMCT không ST chênh lên là 54,5%. Giá trị trung bình của nồng độ CRP, albumin huyết thanh và chỉ số CAR lần lượt là 9,93 ± 9,26 mg/L; 38,43 ± 4,09 g/L và 0,27 ± 0,25 mg/g. Điểm Gensini trung bình là 49,71 ± 33,63. Giá trị trung bình của chỉ số CAR cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm có nồng độ hs-TnT tăng, LVEF giảm và có rối loạn vận động vùng trên siêu âm tim (p &lt; 0,05). Điểm cắt tối ưu trong đánh giá mức tổn thương động mạch vành nặng tính theo thang điểm Gensini của chỉ số CAR là 0,246 mg/g với AUC là 0,702, độ nhạy 51,8% và độ đặc hiệu 83,3%. Nhóm bệnh nhân có chỉ số CAR ≥ 0,246 mg/g có trị trung bình hs-TnT cao hơn, trị trung bình LVEF thấp hơn và có tỷ lệ rối loạn vận động vùng cao hơn so với nhóm bệnh nhân chỉ số CAR &lt; 0,246 mg/g với p &lt; 0,05. Có mối tương quan thuận giữa chỉ số CAR và hs-TnT, tương quan nghịch giữa chỉ số CAR và LVEF.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>CAR cao liên quan đến các yếu tố phản ánh mức độ nặng như tăng hs-TnT, giảm LVEF, xuất hiện rối loạn vận động vùng và tổn thương nhiều nhánh động mạch vành. Điểm cắt CAR ≥ 0,246 mg/g giúp dự đoán mức độ hẹp mạch vành và tổn thương cơ tim nặng, suy giảm chức năng tim và tăng nguy cơ rối loạn vận động vùng ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim.</p> Dương Thị Thuỳ Linh, Hồ Anh Bình, Lê Thị Bích Thuận, Lương Ngọc Bảo Châu, Lê Thị Hồng Hạnh, Huỳnh Tấn Hùng, Trương Tuấn Khanh, Lê Thanh Thiên Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/826 Sat, 03 Jan 2026 00:00:00 +0700 Giá trị thang điểm Hacor trong tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập ở bệnh nhân cao tuổi suy hô hấp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/827 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Thông khí nhân tạo (TKNT) không xâm nhập được ứng dụng rộng rãi giúp hỗ trợ điều trị các bệnh suy hô hấp cấp và tránh được các biến chứng của TKNT xâm nhập như giảm tỷ lệ viêm phổi liên quan đến thở máy, giảm số ngày nằm viện và chi phí điều trị. Tuy nhiên, TKNT không xâm nhập có tỷ lệ thất bại còn cao lên đến 25 - 59% tuỳ thuộc vào bệnh nền, mức độ nặng của bệnh nhân.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Đánh giá giá trị thang điểm HACOR trong tiên lượng thất bại của TKNT không xâm nhập ở bệnh nhân suy hô hấp cấp cao tuổi.</p> <p><strong>Phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 55 bệnh nhân suy hô hấp cấp cao tuổi được chỉ định TKNT không xâm nhập tại khoa hồi sức tích cực từ tháng 08/2024 đến tháng 03/2025. Thang điểm HACOR được thu thập tại thời điểm 1 - 3 giờ, 12 giờ, 24 giờ sau TKNT không xâm nhập.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tỷ lệ thất bại TKNT không xâm nhập trên bệnh nhân suy hô hấp cấp cao tuổi là 36,4%. Điểm HACOR tại thời điểm 1 - 3 giờ, 12 giờ, 24 giờ sau TKNT không xâm nhập của nhóm bệnh nhân thất bại cao hơn và tăng dần có ý nghĩa thống kê theo thời gian TKNT không xâm nhập so với nhóm thành công (p &lt; 0,05). Điểm HACOR ở điểm cắt 4,5 sau 1 - 3 giờ TKNT không xâm nhập có giá trị tiên lượng thất bại tốt với AUROC 0,811, độ nhạy 80% và độ đặc hiệu 88,5%. Điểm HACOR ở điểm cắt 5,5 sau 12 giờ TKNT không xâm nhập có giá trị tiên lượng thất bại tốt với AUROC 0,878, độ nhạy 63,6% và độ đặc hiệu 91,2%. Điểm HACOR thời điểm 24 giờ ít có giá trị tiên lượng.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Thang điểm HACOR giúp tiên lượng tốt tỷ lệ thất bại trong chiến lược TKNT không xâm nhập ở bệnh nhân suy hô hấp cấp cao tuổi.</p> Nguyễn Quang Vũ, Nguyễn Tất Dũng, Phan Thắng Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/827 Sat, 03 Jan 2026 00:00:00 +0700 Tỷ lệ loãng xương của phụ nữ mãn kinh và ứng dụng mô hình NGUYEN của viện Garvan lượng giá nguy cơ gãy xương https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/828 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Loãng xương thường gặp nhất là thể loãng xương nguyên phát ở phụ nữ sau mãn kinh và người cao tuổi ở cả nam và nữ. Loãng xương gây gãy xương là hậu quả nặng nề nặng nhất của loãng xương. Gãy xương do loãng xương gây tàn phế, giảm chất lượng sống, tăng nguy cơ tử vong và tăng đáng kể gánh nặng y tế.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Cần thiết phải xây dựng và cập nhật những hướng dẫn và tiêu chí chung trong việc chẩn đoán, điều trị, dự phòng loãng xương và gãy xương, quản lý gãy xương.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 60 phụ nữ mãn kinh khỏe mạnh từ 53 đến 90 tuổi từ tháng 2 đến tháng 9 năm 2022; được đo mật độ loãng xương theo phương pháp DEXA.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Kết quả cho thấy 43,3% số phụ nữ mãn kinh được nghiên cứu bị loãng xương (trong đó:8,3% là loãng xương nặng), thiếu xương là 45%, tỷ lệ mật độ xương bình thường là 11,7%. Tuổi càng cao mật độ xương càng giảm làm tăng nguy cơ gãy xương đùi. <strong>Kết luận: </strong>Phụ nữ mãn kinh thiếu xương, người lớn tuổi (&gt; 60 tuổi) có nguy cơ gãy xương hông cao hơn nhóm khác. Hơn 2/3 phụ nữ mãn kinh thiếu xương cần điều trị loãng xương theo mô hình NGUYEN. Cần ứng dụng mô hình lượng giá nguy cơ gãy xương vào lâm sàng một cách có chọn lọc.</p> Lê Thị Kim Dung, Nguyễn Đình Cường, Phan Thị Hoàng Anh, Nguyễn Tấn Dũng Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/828 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Khảo sát hình ảnh nội soi niêm mạc ống tiêu hóa trên ở bệnh nhân xơ gan giai đoạn Child - Pugh A https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/829 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Xuất huyết tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch là một trong những biến chứng rất thường gặp và nghiêm trọng ở bệnh nhân xơ gan. Chẩn đoán sớm giãn tĩnh mạch thực quản - phình vị và các biến đổi niêm mạc ống tiêu hoá trên khác rất cần thiết để có kế hoạch điều trị dự phòng tiên phát giúp giảm tỷ lệ của lần xuất huyết đầu tiên, giảm tử vong.</p> <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong>&nbsp;Mô tả các biến đổi niêm mạc thực quản - dạ dày -tá tràng trên nội soi ở các bệnh nhân xơ gan giai đoạn Child - Pugh A và khảo sát một số yếu tố liên quan đến biến đổi niêm mạc ống tiêu hóa trên ở các bệnh nhân này.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Mô tả cắt ngang trên 70 bệnh nhân xơ gan giai đoạn Child - Pugh A tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế, Bệnh viện Trung ương Huế.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Giãn tĩnh mạch thực quản chiếm tỷ lệ 61,4%, giãn tĩnh mạch phình vị 8,6%, bệnh dạ dày tăng áp tĩnh mạch cửa 44,3%. Có mối liên quan giữa tỷ prothrombin, đường kính lách, chỉ số tiểu cầu/đường kính lách với giãn TMTQ. ARFI có tương quan với giãn TMTQ có nguy cơ xuất huyết.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nên tầm soát nội soi ống tiêu hóa trên ở các bệnh nhân xơ gan giai đoạn Child - Pugh A có ARFI &gt; 20,5 kPa.</p> Đặng Thị Ánh Nguyệt, Phạm Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Văn Huy Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/829 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Nghiên cứu nâng cao chất lượng hình ảnh và tối ưu hoá thời gian chụp cộng hưởng từ khớp cổ chân bằng phương pháp kết hợp nhiều cuộn thu tín hiệu https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/830 <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Sử dụng phương pháp kết hợp hai cuộn thu (coil) gồm coil sọ não và coil flex để nâng cao chất lượng hình ảnh, đồng thời làm giảm thời gian chụp cộng hưởng từ khớp cổ chân so với cách làm thông thường.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong>&nbsp;Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân chụp cộng hưởng từ khớp cổ chân tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 6/2024 đến tháng 12/2024. So sánh tỉ lệ tín hiệu trên nhiễu (SNR) của các cấu trúc giải phẫu, mức độ dễ phát hiện tổn thương khi chụp với một coil, hai coil và hai coil kết hợp thu hình song song. Kết hợp so sánh phân tích của bác sĩ chẩn đoán hình ảnh cho từng chuỗi xung sử dụng phương pháp đánh giá bằng mắt theo thang điểm Likert.</p> <p><strong>K</strong><strong>ết quả:</strong>&nbsp;Với các chuỗi xung T1w sagittal, PD fatsat sagittal, PD fatsat axial, SNR của các cấu trúc giải phẫu khi dùng hai coil cao hơn so với một coil (p &lt; 0,05). Với các chuỗi xung PD fatsat sagittal và PD fatsat axial, SNR của các cấu trúc giải phẫu khi dùng hai coil kết hợp thu hình song song cao hơn khi dùng một coil (p &lt; 0,05). Thang điểm của các bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh khi so sánh các tiêu chí đạt mức đồng thuận cao (K &gt; 0,61).</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Phương pháp kết hợp cuộn thu tín hiệu giúp nâng cao chất lượng hình ảnh, đồng thời giúp giảm thời gian chụp cộng hưởng từ khớp cổ chân so với kỹ thuật chụp thông thường.</p> Tôn Thất Nam Anh, Nguyễn Thanh Thảo, Lê Trọng Bỉnh, Hà Thị Hiền, Lê Minh Tuấn, Phạm Thị Nhài, Trần Văn Hưng, Võ Thị Thiên Hưng Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/830 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Kiến thức, thái độ và thực hành về đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn GACP-WHO trong trồng và thu hái dược liệu tại các cơ sở trồng dược liệu tỉnh Lâm Đồng https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/831 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Chất lượng dược liệu là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả và an toàn của thuốc y học cổ truyền. Tỉnh Lâm Đồng có tiềm năng lớn về dược liệu nhưng thực tế việc trồng và thu hái dược liệu còn nhiều hạn chế.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành về đảm bảo chất lượng trong trồng và thu hái dược liệu theo tiêu chuẩn GACP-WHO của người trồng dược liệu tại Lâm Đồng và tìm hiểu các yếu tố liên quan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong>&nbsp;Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 385 người trồng dược liệu tại 87 cơ sở được cấp phép ở Lâm Đồng. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp có sử dụng bộ câu hỏi.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành ở mức “tốt/đạt” lần lượt là 46,0%, 94,8% và 74,3%. Kiến thức đạt liên quan đến một số yếu tố gồm dân tộc Kinh, trình độ đại học trở lên và có tham gia tập huấn về tiêu chuẩn GACP-WHO (p &lt; 0,05). Thái độ tốt có liên quan với có tham gia tập huấn về tiêu chuẩn GACP-WHO và kiến thức đạt (p &lt; 0,05). Thực hành đạt có liên quan với trình độ học vấn và tham gia tập huấn về tiêu chuẩn GACP-WHO (p &lt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Người trồng dược liệu ở tỉnh Lâm Đồng có kiến thức riêng cho từng phần về GACP-WHO khá tốt nhưng kiến thức chung lại thấp, thái độ của người trồng dược liệu khá tốt, còn phần thực hành vẫn hạn chế. Do đó cần tăng cường tập huấn về tiêu chuẩn GACP-WHO, đặc biệt cho người có trình độ thấp để nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành về đảm bảo chất lượng dược liệu.</p> Nguyễn Thị Kiều Oanh, Hoàng Thị Bạch Yến, Đoàn Văn Minh, Lê Thị Minh Phương Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/831 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Đánh giá kết quả chức năng khớp vai sau phẫu thuật điều trị rách chóp xoay qua nội soi bằng kỹ thuật khâu một hàng không cột chỉ https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/832 <p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Tỉ lệ thất bại sau khi khâu chóp xoay được ghi nhận qua các nghiên cứu khá khác nhau, ngoài ra ảnh hưởng của kỹ thuật khâu chóp xoay đến tỉ lệ rách lại và chức năng khớp vai hiện vẫn đang còn và vấn đề gây tranh cãi. Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là đánh giá kết quả khâu chóp xoay bằng kỹ thuật không cột chỉ và so sánh kết quả đó với các nghiên cứu khác.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: 15 trường hợp được phẫu thuật khâu chóp xoay bằng kỹ thuật không cột chỉ và theo dõi dài nhất trong 1 năm. Đánh giá chức năng khớp vai bằng thang điểm UCLA và Constant.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: 15 trường hợp với thời gian theo dõi trung bình là 9,2 tháng, thời gian theo dõi ngắn nhất là 6 tháng và dài nhất là 12 tháng.Điểm Constant trung bình trước mổ là 36,13 ± 3,63; điểm Constant trung bình sau mổ là 81,4 ± 3,89 (p &lt; 0,01). Điểm UCLA trung bình của bệnh nhân sau mổ là 31,93 ± 2,17. Chúng tôi không có bệnh nhân nào có kết quả xấu, 14/15 bệnh nhân có kết quả tốt và rất tốt (93,33%). Không ghi nhận ca thất bại trong quá trình nghiên cứu.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Nội soi khâu chóp xoay 1 hàng bằng kỹ thuật không cột chỉ cho kết quả tốt tương tự các kĩ thuật khác theo y văn.</p> Hồ Sỹ Nam, Lê Nghi Thành Nhân, Trần Hữu Dũng, Tăng Hà Nam Anh Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/832 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Phân tích chi phí cận lâm sàng và thuốc trong điều trị suy tim nội trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/833 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Suy tim là bệnh lý tim mạch khá phổ biến, nhưng hiện nay tại Việt Nam số lượng các công bố về chi phí bệnh suy tim hiện vẫn còn hạn chế, và đặc biệt chưa có nghiên cứu nào phân tích sâu về chi phí các loại dịch vụ cận lâm sàng và các nhóm thuốc sử dụng trong các đợt điều trị bệnh nhân suy tim nội trú.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Phân tích chi phí cận lâm sàng và chi phí thuốc trong điều trị suy tim nội trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong>&nbsp;Nghiên cứu mô tả cắt ngang, dữ liệu được hồi cứu trên 204 bệnh nhân suy tim điều trị nội trú tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế năm 2022 - 2023. Phân tích chi phí dựa trên quan điểm của bên chi trả.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Chi phí cho xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh - thăm dò chức năng và chi phí thuốc lần lượt chiếm tỷ trọng 24,9%, 10,4% và 22,0% tổng chi phí trực tiếp y tế. NT-ProBNP và siêu âm tim lần lượt là loại xét nghiệm và loại chẩn đoán hình ảnh có tỷ trọng chi phí cao nhất (23,8% và 31,1%). Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định là 97,1% đối với NT-ProBNP và 99% đối với siêu âm tim. Nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ trọng cao nhất (54,69%) trong tổng giá trị thuốc sử dụng. Về sử dụng các thuốc nền tảng trong điều trị suy tim, phổ biến nhất là hình thức kết hợp 3 nhóm thuốc nền tảng (44,12%). Có 54,9% bệnh nhân suy tim được chỉ định nhóm thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển natri-glucose 2 &nbsp;(SGLT2i), trong đó có đến 72,32% bệnh nhân là không có bệnh kèm đái tháo đường.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Cận lâm sàng và thuốc là những thành phần chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí điều trị. Đánh giá chi phí từng nhóm thuốc và loại dịch vụ cận lâm sàng là cần thiết để từ đó có giải pháp quản lý chi phí hiệu quả trong điều trị suy tim.</p> Phạm Nữ Hạnh Vân, Nguyễn Phước Bích Ngọc, Hoàng Anh Tiến Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/833 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Nghiên cứu chất lượng sống và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân ung thư điều trị tại Khoa Ung bướu, Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/834 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Bệnh ung thư là một vấn đề sức khỏe mang tính chất toàn cầu với tỷ lệ tử vong cao, gây ra nhiều hậu quả nặng nề và là gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội. Do đó, chất lượng sống có vai trò quan trọng trong việc đo lường tác động của các bệnh ung thư lên sức khỏe.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong>&nbsp;Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 291 bệnh nhân ung thư điều trị tại Khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai với mục tiêu nhằm đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân ung thư và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến chất lượng sống của đối tượng nghiên cứu. Bộ công cụ EORTC QLQ-C30 của Tổ chức Nghiên cứu và Điều trị Ung thư Châu Âu được sử dụng để đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân ung thư.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Điểm trung bình chất lượng sống của 291 bệnh nhân ung thư là 45,6 ± 21,3 điểm. Tỷ lệ bệnh nhân ung thư xếp loại chất lượng sống tốt là 25,8% và chất lượng sống không tốt là 74,2%. Các yếu tố liên quan đến chất lượng sống không tốt từ mô hình hồi quy logistic đa biến là: không có tôn giáo (OR = 4,06; 95% KTC: 1,05 - 15,68), người khác chi trả chính cho việc điều trị (OR = 11,17; 95% KTC: 2,35 - 52,96), loại ung thư phổi (OR = 11,16; 95% KTC: 1,70 - 73,50) và ung thư gan (OR = 7,78; 95% KTC: 1,61 - 37,61), có di căn (OR = 5,38; 95% KTC: 1,40 - 20,78), có bệnh lý kèm theo (OR = 8,56; 95% KTC: 2,47 - 29,74) và không đáp ứng điều trị (OR = 7,18; 95% KTC: 1,31 - 39,52).</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Điểm trung bình chất lượng sống chung của bệnh nhân ung thư ở mức thấp. Cần có các biện pháp hỗ trợ về thể chất và tinh thần nhằm nâng cao chất lượng sống của bệnh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh viện.</p> Đoàn Phước Thuộc, Đào Minh Huy, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thị Hường Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/834 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Khảo sát tỷ lệ huyết thanh dương tính với một số loài ký sinh trùng ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/835 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Nhiễm giun sán đường tiêu hoá vẫn còn là vấn đề sức khoẻ toàn cầu. Trong khi đó các ký sinh trùng xâm nhập tổ chức gây tăng bạch cầu ái toan như sán lá gan lớn (Fasciola), giun lươn (Strongyloides), nang ấu trùng sán dây lợn (<em>Taenia solium</em>&nbsp;Cysticercosis), giun đũa chó/mèo (<em>Toxocara</em>) là những bệnh nhiệt đới bị lãng quên. Các xét nghiệm miễn dịch phát hiện kháng thể IgG kháng kháng nguyên ký sinh trùng này thường dùng để chẩn đoán những bệnh này.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Khảo sát tỷ lệ huyết thanh dương tính với <em>Fasciola</em>, <em>Strongyloides</em>, <em>Toxocara</em>, <em>T. solium </em>Cysticercosis bằng kỹ thuật ELISA. Đánh giá mối liên quan giữa chỉ số huyết thanh dương tính và số lượng bạch cầu ái toan trong máu.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 553 bệnh nhân được làm xét nghiệm huyết thanh phát hiện kháng thể IgG kháng từng loại giun sán bằng kỹ thuật ELISA tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Tỷ lệ huyết thanh dương tính với từng loài giun sán là: <em>Fasciola</em>&nbsp;78,0%, <em>Strongyloides </em>57,6%, <em>T. solium Cysticercosis</em>&nbsp;59,2% và <em>Toxocara</em>&nbsp;63,2%. Tỷ lệ huyết thanh ký sinh trùng dương tính chung là 65,0% với dương tính 1 loại đơn thuần là 21,0%, dương tính nhiều loại là 66,1%. Tỷ lệ huyết thanh dương tính và có tăng bạch cầu ái toan với từng loài giun sán là: <em>Fasciola</em>&nbsp;71,5%, <em>Strongyloides </em>79,2%, <em>T. solium Cysticercosis</em>&nbsp;72,7% và <em>Toxocara</em>&nbsp;65,0%. Có sự liên quan giữa chỉ số huyết thanh dương tính và số lượng bạch cầu ái toan trong máu tăng với p &lt; 0,05. Đặc biệt, cũng có mối tương quan giữa huyết thanh dương tính và bạch cầu ái toan của <em>Fasciola</em>, <em>Strongyloides, T. solium Cysticercosis, Toxocara </em>với p &lt; 0,01.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Tỷ lệ huyết thanh dương tính với giun sán trên bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế là rất cao 65,0%. Tăng bạch cầu ái toan là dấu hiệu gợi ý nhiễm giun sán ký sinh.</p> Trần Thị Minh Ngọc, Hoàng Thị Hồng Nhung, Đỗ Thị Bích Thảo, Hà Thị Ngọc Thuý, Nguyễn Phước Vinh, Võ Minh Tiếp, Ngô Thị Minh Châu, Tôn Nữ Phương Anh Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/835 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính xương thái dương và mối liên quan với chỉ số nguy cơ tai giữa và kết quả phẫu thuật ở bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/836 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Khảo sát đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính xương thái dương và mối liên quan với chỉ số nguy cơ tai giữa và kết quả phẫu thuật ở bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Gồm 31 bệnh nhân (32 tai) được chẩn đoán viêm tai giữa mạn tính đến khám và được chỉ định phẫu thuật bằng các phương pháp vá nhĩ đơn thuần, mở sào bào thượng nhĩ - vá nhĩ ± chỉnh hình xương con (CHXC) hoặc tiệt căn xương chũm tại khoa Tai Mũi Họng - Mắt - Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Trường Đại học Y - DượcH uế trong thời gian từ tháng 1/2024 đến tháng 01/2025. Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, có can thiệp lâm sàng.</p> <p><strong>Kết quả: &nbsp;</strong>Mức độ tổn thương trên hình ảnh CLVT tai thái dương : 31,3% nhẹ, &nbsp;46,9% trung bình, &nbsp;21,9% nặng. Độ tuổi thường gặp nhất là 31 - 45 tuổi, nữ mắc bệnh nhiều hơn nam. Triệu chứng chính là chảy tai và nghe kém. Hòm nhĩ thượng nhĩ tổn thương nhiều nhất, tỷ lệ ăn mòn xương búa và xương đe tương đương nhau. Tế bào chũm tổn thương phổ biến và nặng. Điểm CLVT trung bình phản ánh mức độ tổn thương. Điểm CLVT tiên lượng khả năng can thiệp xương chũm tốt hơn MERI. Điểm COMOT-15 trước phẫu thuật không có giá trị tiên lượng.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Nghiên cứu này góp phần khẳng định vai trò của CLVT và MERI trong việc tiên lượng và lựa chọn phẫu thuật cho bệnh nhân VTGMT.</p> Nguyễn Nguyện, Nguyễn Thị Minh Ly, Châu Thành Nguyên, Phạm Ngọc Quỳnh, Trần Thị Thúy Hiền, Cao Trường An, A Lê Hờ Điều Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/836 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Tác dụng ức chế tăng sinh của Adavosertib trên tế bào ung thư biểu mô đường mật https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/837 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Adavosertib gần đây đã cho thấy tác dụng chống ung thư mạnh đối với nhiều loại ung thư. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá hoạt tính kháng ung thư <em>in vitro</em>&nbsp;của Adavosertib - một chất ức chế tyrosine kinase Wee1 - trên dòng tế bào ung thư đường mật ở người TFK1.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong><em>&nbsp;</em>Đối tượng nghiên cứu là dòng tế bào ung thư đường mật người TFK1. Nghiên cứu sử dụng các thử nghiệm WST-1, thử nghiệm Crystal Violet và thử nghiệm di trú tế bào khảo sát ảnh hưởng của Adavosertib lên tế bào TFK1.<strong>&nbsp;</strong></p> <p><strong>Kết quả: </strong>Adavosertib ức chế tăng sinh tế bào TFK1 phụ thuộc liều, đạt IC₅₀ = 0,859 µM. Adavosertib đã ức chế sự phát triển của tế bào TFK1 với diện tích của các cụm tế bào trong các nhóm điều trị giảm phụ thuộc vào liều sau hai tuần điều trị. Ở nồng độ 0,125 - 0,500 µM, Adavosertib không làm giảm khả năng di trú của tế bào TFK1.</p> <p><strong>Kết luận:</strong><strong><em>&nbsp;</em></strong>Adavosertib thể hiện hiệu quả ức chế tăng sinh trên dòng tế bào ung thư đường mật TFK1 <em>in vitro</em>.</p> Bùi Khắc Cường, Nguyễn Như Ngọc, Nguyễn Thị Mai Ly Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/837 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Nghiên cứu đặc điểm mô bệnh học, hình ảnh và giá trị của siêu âm, nhũ ảnh tổn thương tuyến vú BI-RADS 4 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/838 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong><em>&nbsp;</em>Siêu âm và nhũ ảnh thường được kết hợp với thăm khám lâm sàng để chẩn đoán bệnh lý tuyến vú; sử dụng Hệ thống dữ liệu và báo cáo hình ảnh tuyến vú BI-RADS để mô tả tổn thương và đánh giá nguy cơ ác tính; trong đó BI-RADS 4 với tiên lượng ác tính rộng từ 2% đến 95%. Hiệp hội điện quang Hoa Kỳ (ACR) khuyến cáo phân chia thành BI-RADS 4A, 4B và 4C để thông báo mức độ nghi ngờ cho bác sĩ và bệnh nhân.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong>&nbsp;Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 90 bệnh nhân có tổn thương tuyến vú được phân loại BI-RADS 4 (4A, 4B, 4C) trên siêu âm và/hoặc nhũ ảnh, tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 04/2023 đến tháng 07/2024.</p> <p><strong>Kết quả:</strong><em>&nbsp;</em>Có 56,7% u vú ác tính với ung thư biểu mô (UTBM) tuyến vú xâm nhập típ không đặc biệt chiếm đa số (72,5%). Có 43,3% u vú lành tính với u xơ tuyến vú chiếm đa số (36,0%). Các dấu hiệu có ý nghĩa cao trong chẩn đoán ung thư vú (UTV) trên siêu âm là: hình dạng không đều với bờ gập góc, bờ tua gai, tạo bóng lưng và viền tăng âm. Nhóm 4A hay gặp bờ đa cung nhỏ (41,7%), Nhóm 4B và 4C hay gặp hình dạng không đều với bờ gập góc. Trên nhũ ảnh là: vi vôi hóa nghi ngờ, tăng đậm độ, khối hình dạng không đều, khối bờ không rõ, khối tua gai. Nhóm 4A hay gặp dấu hiệu đậm độ cao (18,8%). Nhóm 4B hay gặp dấu hiệu khối bờ không rõ (60,0%), nhóm 4C hay gặp khối có hình dạng không đều (94,4%). Kết hợp siêu âm và nhũ ảnh tăng tỷ lệ phát hiện UTV từ 2,0 - 66,7% đến 5,9 - 94,1%, đồng thời đạt được giá trị dự báo dương tính theo lý thuyết trong từng phân nhóm BI-RADS 4A (10,0%), 4B (36,8%), 4C (80,0%).</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Các dấu hiệu nghi ngờ ác tính trên siêu âm và nhũ ảnh có giá trị cao trong dự báo và phân tầng nguy cơ UTV. Tăng tỷ lệ phát hiện UTV khi kết hợp siêu âm và nhũ ảnh trong chẩn đoán tổn thương vú BI-RADS 4.</p> Lê Trần Minh Nguyệt, Nguyễn Phước Bảo Quân, Trần Thị Nam Phương, Đặng Công Thuận Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/838 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Khảo sát bước đầu về nồng độ IgE toàn phần huyết thanh ở bệnh nhân nhiễm virus HBV mạn tính https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/840 <p><strong>Mục tiêu: </strong>1.<em>&nbsp;</em>Mô tả nồng độ IgE toàn phần huyết thanh ở bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính. 2.<em>&nbsp;</em>Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ IgE toàn phần huyết thanh với một số đặc điểm cận lâm sàng ở bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính.<em>&nbsp;</em></p> <p><strong>Đối tượng và</strong>&nbsp;<strong>phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang ở 77 bệnh nhân đã được chẩn đoán nhiễm HBV mạn tính đến khám và điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và 51 người không nhiễm HBV tương đồng về tuổi và giới với nhóm bệnh đến kiểm tra sức khoẻ được đưa vào nhóm chứng từ tháng 04/2024 đến tháng 11/2024.</p> <p><strong>Kết quả nghiên cứu: </strong>Nồng độ trung bình IgE toàn phần ở nhóm bệnh là 2118,48 ± 3199,15 IU/Ml, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng là 100,51 ± 73,70 IU/mL (p &lt; 0,05). Có mối tương quan thuận giữa nồng độ IgE toàn phần với ALT (r = 0,312, p = 0,006) và AST (r = 0,265, p = 0,020) nhưng không có mối tương quan với các chỉ số tế bào máu và AFP (p &gt; 0,05). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nồng độ IgE toàn phần giữa nhóm bệnh nhân có HBeAg dương tính và nhóm HBeAg âm tính (p &lt; 0,05). Ngoài ra, nồng độ IgE toàn phần ở nhóm bệnh nhân HBeAg âm tính có mối tương quan với các chỉ số ALT (r = 0,545, p = 0,000), AST (r = 0,361, p = 0,011) và AFP (r = 0,352, p = 0,013).</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ<strong>&nbsp;</strong>IgE toàn phần huyết thanh có mối liên quan với tình trạng hoại tử tế bào gan và hoạt động của virus HBV. Cần mở rộng thêm phạm vi nghiên cứu để xác định rõ hơn vai trò của IgE toàn phần trong nhiễm HBV mạn tính.</p> Nguyễn Thị Huyền, Trần Thị Bích Ngọc, Nguyễn Vũ Thành, Phạm Thị Diệu Huê, Trần Xuân Chương, Phan Thị Minh Phương Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/840 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Bước đầu ứng dụng phẫu thuật phương pháp thắt đường rò gian cơ thắt (LIFT) trong điều trị áp xe cạnh hậu môn phức tạp cấp tính https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/841 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Áp xe hậu môn cấp tính có nguồn gốc từ tuyến ống hậu môn thường được xử trí bằng cách rạch và dẫn lưu, kết quả là sự phát triển thành đường rò lên đến 73% trường hợp cần phẫu thuật cắt lỗ rò sau đó. Tuy nhiên, do các đường rò có thể đã xuất hiện ở lần xuất hiện ban đầu, việc đóng đường sơ cấp để ngăn ngừa hình thành lỗ rò thứ phát, bằng cách thắt đường rò trong khoang gian cơ thắt có thể giúp cải thiện tỷ lệ xuất hiện đường rò sau đó.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>báo cáo kết quả ngắn hạn các trường hợp áp xe cạnh hậu môn phức tạp được điều trị bằng phẫu thuật thắt đường rò gian cơ thắt (LIFT).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>báo cáo một loạt ca gồm 6 bệnh nhân.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Cả 6 bệnh nhân đều được mổ cấp cứu trong vòng 24 giờ và được chụp MRI trước mổ. Đường rò được xác định trên MRI và trong mổ bằng các phương pháp thăm dò. Đường rò sau đó được &nbsp;khâu buộc và cắt trong khoang gian cơ thắt theo phương pháp LIFT hoặc LIFT cải biên. 4/6 bệnh nhân đều lành thương hoàn toàn sau 60 ngày. 1 bệnh nhân không lành đường rò nhưng từ chối đièu trị tiếp. 1 bệnh nhân được điều trị thì 2 bằng phương pháp LIFT và khoét đường rò ngoài. Không có bệnh nhân nào có rối loạn tử chủ sau 90 ngày.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Phương pháp LIFT có thể cải thiện tỷ lệ xuất hiện đường rò sau khi giải quyết áp xe cấp tính mà không gây ảnh hưởng đến khả năng tự chủ hậu môn.</p> Đặng Như Thành, Phạm Anh Vũ Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/841 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi cắt đại tràng và thực hiện miệng nối bằng máy điều trị ung thư đại tràng https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/842 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Trong thời đại hiện nay, việc phát triển các dụng cụ khâu nối máy sẽ giúp hướng tới một số phương pháp tiếp cận miệng nối ống tiêu hóa trong tương lai. Vì vậy, nhu cầu nghiên cứu sâu hơn về các kỹ thuật khâu nối máy là cần thiết đối với phẫu thuật nội soi cắt đại tràng điều trị ung thư.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu. Gồm có các bệnh nhân ung thư đại tràng được phẫu thuật nội soi cắt đại tràng có thực hiện miệng nối máy tại Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 1/2022 đến tháng 2/2023.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Nghiên cứu gồm có 65 bệnh nhân với<strong>&nbsp;</strong>tuổi trung bình là 60,0 ± 13,2 (28 - 87 tuổi), nam có tỷ lệ 62,5% và nữ là 37,5%. Phương pháp phẫu thuật gồm có 28/65 trường hợp cắt đại tràng phải, 23/65 trường hợp cắt đại tràng xích ma, 13/65 trường hợp cắt đại tràng trái và 1/65 trường hợp cắt đại tràng ngang. Có 28/65 trường hợp thực hiện miệng nối trong ổ phúc mạc và 37/65 trường hợp thực hiện ngoài ổ phúc mạc. Miệng nối bên-bên là 63,1%, kiểu tận-tận là 30,8% và tận-bên là 6,2%. Biến chứng sau mổ gồm có 6 trường hợp nhiễm trùng vết mổ và 1 trường hợp tắc ruột. Phân loại biến chứng theo Clavien-Dindo có 9,2% độ I và 1,5% độ II.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Thực hiện miệng nối máy trong phẫu thuật nội soi cắt đại tràng là an toàn, dễ thực hiện và có thể áp dụng rộng rãi.</p> Phạm Minh Đức, Nguyễn Minh Thảo, Nguyễn Thanh Xuân Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/842 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Nghiên cứu thành phần hóa học của một số loài thực vật thuộc chi An Xoa (Helicteres) tại vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/843 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Vùng Bảy Núi, tỉnh An Giang là nơi có nhiều loài thực vật được sử dụng làm thuốc, trong đó có các loài thuộc chi An xoa (<em>Helicteres</em>). Tuy nhiên, thành phần hóa học của các loài này tại vùng Bảy Núi, An Giang chưa được khảo sát.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Nghiên cứu này được thực hiện nhằm so sánh thành phần hóa học của các loài thực vật thuộc chi An xoa, từ đó, xác định chính xác loài có chứa nhiều hợp chất hóa học có hoạt tính trong hỗ trợ điều trị bệnh.</p> <p><strong>Vật liệu và phương pháp:</strong>&nbsp;Các loài thực vật thuộc chi An xoa được thu hái vào tháng 05 năm 2023 ở giai đoạn đang ra hoa. Mẫu thực vật được sấy khô, xay thành bột và chiết xuất bằng dung môi nước và ethanol. Nghiên cứu này thực hiện định tính một số hợp chất có hoạt tính sinh học phổ biến dựa vào biểu hiện của phản ứng hóa học và định lượng hợp chất phenol và flavonoid.</p> <p><strong>Kết quả và thảo luận: </strong>Qua nghiên cứu ghi nhận có ba loài thuộc chi An xoa gồm <em>Helicteres hirsuta</em>&nbsp;Lour. (An xoa), <em>Helicteres lanceolata</em>&nbsp;DC. (An xoa lá mác), <em>Helicteres isora</em>&nbsp;L. (An xoa lá tròn) tại Bảy Núi - An Giang. Các loài này có các hợp chất chung như carbohydrate, flavonoide, phenol, protein, saponin, tanin, gum, coumarin, diterpenoid, chất nhầy và nhựa. Cao chiết nước thân+lá <em>Helicteres lanceolata </em>có hàm lượng TPC và TFC cao nhất lần lượt là 116,53 ± 0,50&nbsp;(mg GA/g cao chiết) và 404,83 ± 5,28 (mg QE/g cao chiết).</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Các hợp chất có hoạt tính sinh học ở các loài thuộc chi An xoa tại Bảy Núi đã được ghi nhận. Cao chiết nước lá hầu hết các loài thuộc chi An xoa có hàm lượng TPC và TFC cao nhất.</p> Phan Thành Đạt, Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Trọng Hiếu, Thái Ngọc Quí, Đỗ Hồ Minh Nhật, Đỗ Hồ Minh Hào, Kiều Thị Diễm Trang, Phan Thị Yến Nhi, Phùng Thị Hằng, Nguyễn Trọng Hồng Phúc Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/843 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật ung thư đại tràng có biến chứng bán tắc ruột hoặc tắc ruột https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/844 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả phẫu thuật điều trị ung thư đại tràng có biến chứng bán tắc ruột hoặc tắc ruột.<strong>&nbsp;</strong></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp</strong>: Nghiên cứu tiến cứu. Gồm 47 trường hợp ung thư đại tràng biến chứng bán tắc ruột hoặc tắc ruột được phẫu thuật tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 12/2021 đến tháng 12/2024.</p> <p><strong>Kết quả</strong>: Tuổi trung bình 65,9 tuổi, tỷ lệ nam/nữ là 1,13/1. Ung thư đại tràng trái cao gấp 2,6 ung thư đại tràng phải. Vị trí khối u ở đại tràng lên chiếm 8,5%, đại tràng góc gan chiếm 17,5%, đại tràng ngang chiếm 2,1%, đại tràng góc lách (10,6%), đại tràng xuống chiếm 17%, đại tràng sigma chiếm 44,7%. Đối với ung thư đại tràng phải, cắt đại tràng kèm u nối ngay chiếm 84,6%, đối với ung thư đại tràng trái cắt đại tràng kèm u nối ngay chiếm 52,9%. Tỷ lệ biến chứng chung là 12,8% không có trường hợp nào tử vong.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Điều trị ung thư đại tràng có biến chứng tắc ruột vẫn còn là một thách thức. Phẫu thuật cắt đại tràng kèm u và nối ngay là phương pháp điều trị có thể áp dụng cho một số trường hợp bệnh nhân với tỷ lệ biến chứng thấp.</p> Nguyễn Trương Chinh, Phạm Minh Đức, Phan Đình Tuấn Dũng, Nguyễn Hữu Trí Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/844 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật gãy mắt cá chân https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/894 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Gãy mắt cáchân làmột chấn thương cổ chân thường gặp. Hiện nay, cùng với những nghiên cứu vềgãy mắt cáchân đãđược thực hiện, nhận thấy cómột sốđiểm mới vềkiến thức vàthái độxửtrí, đặc biệt làquátrình thoái hoákhớp sau gãy xương cổchân diễn tiến cóphần phụthuộc vào kết quảđiều trịphẫu thuật, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trịphẫu thuật gãy mắt cáchân”.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>nghiên cứu tiến cứu mô tả gồm 37 bệnh nhân gãy mắt cáchân được phẫu thuật từ tháng 04/2022 đến tháng 06/2023 tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Tất cảcác ổgãy mắt các chân được thu thập X-quang trước vàsau mổ, khi tái khám, kết quảđiều trịđược đánh giádựa vào thang điểm của Hiệp hội chỉnh hình cổ bàn chân Mỹ (AOFAS).</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Tuổi trung bình 41,16; nam/nữ1,45. Theo phân loại Denis- Weber thì gãy mắt cá chân kiểu B gặp nhiều nhất 18/33 (54,5%). 91,9% bệnh nhân có hình ảnh X-quang đạt giải phẫu sau mổ. Tỉlệliền xương trên X-quang đạt 100%, không cótrường hợp nào không liền xương, khớp giả. Gãy ba mắt cáchân cho kết quảxấu hơn so với gãy riêng một mắt cávàgãy hai mắt cá. Tỷlệbệnh nhân đạt kết quảtốt đến rất tốt chiếm lần lượt 30,3% và51,5%, có12,1% bệnh nhân đạt kết quảtrung bình và6.1% bệnh nhân đạt kết quả xấu.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Phẫu thuật kết hợp xương mắt cáchân làphương pháp hiệu quảđểđiều trịgãy mắt cáchân. Cần sửdụng các đường mổ, phương tiện thích hợp đểtiếp cận, đặt ổgãy vềlại đúng vịtrígiải phẫu, tránh các biến chứng sau chấn thương.</p> Đặng Lê Hoàng Nam, Nguyễn Bá Lưu, Đặng Gia Tín, Lê Nghi Thành Nhân Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/894 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Đánh giá hiệu quả giảm đau của phương pháp gây tê mặt phẳng cơ dựng sống trong giảm đau sau phẫu thuật kết hợp xương cột sống thắt lưng https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/846 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Gây tê mặt phẳng cơ dựng sống (ESP) đang được áp dụng rộng rãi trong giảm đau đa mô thức. Tuy nhiên, hiệu quả của kỹ thuật này trong phẫu thuật cột sống thắt lưng vẫn còn gây tranh luận. Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là đánh giá hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật cột sống thắt lưng của phương pháp gây tê ESP.<strong>&nbsp;</strong></p> <p><strong>Phương pháp nghiên cứu:</strong>&nbsp;Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, ngẫu nhiên có so sánh trên 105 bệnh nhân được chia thành 3 nhóm: Nhóm ED = gây tê ESP + dexamethason tiêm tĩnh mạch; Nhóm E = gây tê ESP; Nhóm C = Nhóm chứng. Với mục tiêu so sánh hiệu quả giảm đau giữa 3 nhóm và hiệu quả của dexamethason trong gây tê vùng đồng thời ghi nhận các tác dụng không mong muốn và các biến chứng của phương pháp gây tê.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Điểm VAS trung vị của cả hai nhóm có gây tê ESP nhỏ hơn hoặc bằng 3 ở các thời điểm nghiên cứu. Có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 3 nhóm về tổng lượng morphin tiêu thụ và mức độ đau giữa 3 nhóm, nhóm gây tê phối hợp dexamethason có thời gian bắt đầu sử dụng morphin giải cứu muộn hơn (p &gt; 0,05). Tỉ lệ các tác dụng không mong muốn của nhóm ED, nhóm E là thấp hơn so với nhóm C (p &lt; 0,05), không có biến chứng nào của phương pháp gây tê được báo cáo và mức độ hài lòng của bệnh nhân tăng cao khi kiểm soát đau hiệu quả sau phẫu thuật (p &lt; 0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Gây tê mặt phẳng cơ dựng sống mang lại hiệu quả giảm đau tốt sau phẫu thuật kết hợp xương cột sống thắt lưng, giảm tổng lượng morphin tiêu thụ và tỷ lệ tác dụng không mong muốn, tăng sự hài lòng của bệnh nhân và tăng chất lượng hồi phục sau phẫu thuật.</p> Lê Thị Ngọc Ánh, Nguyễn Văn Minh, Trần Xuân Thịnh, Nguyễn Thanh Minh, Phạm Thị Minh Thư, Bùi Thị Thuý Nga, Trần Thị Thu Lành Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/846 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 So sánh thang điểm MGS với thang điểm BISAP trong tiên lượng viêm tuỵ cấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/847 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Viêm tụy cấp (VTC) là một bệnh lý nội khoa cấp cứu với nhiều biến chứng nghiêm trọng. Việc tiên lượng sớm giúp nâng cao hiệu quả điều trị và giảm tử vong. Các thang điểm như MGS (Modified Glasgow Score) và BISAP (Bedside Index for Severity in Acute Pancreatitis) được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ nặng và tiên lượng biến chứng VTC.</p> <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và biến chứng VTC, đồng thời so sánh giá trị tiên đoán của hai thang điểm MGS và BISAP trong tiên lượng biến chứng và tử vong ở bệnh nhân VTC.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong>&nbsp;Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 57 bệnh nhân VTC nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa từ tháng 06/2022 đến tháng 08/2023. Mỗi bệnh nhân được đánh giá bằng điểm BISAP trong 24 giờ đầu và MGS sau 48 giờ nhập viện. Các thông tin lâm sàng, cận lâm sàng, biến chứng và kết cục được thu thập và phân tích.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Tuổi trung bình là 41,91 ± 13,34; nam giới chiếm 70,2%; nguyên nhân hàng đầu là rượu (56,1%). Tỉ lệ biến chứng tại chỗ là 73,8%, chủ yếu là tụ dịch quanh tuỵ (66,7%). MGS ≥ 3 có AUC 0,86 trong tiên đoán suy cơ quan, với độ nhạy 64,29% và độ đặc hiệu 91,49%. BISAP ≥ 3 có AUC 0,83, độ nhạy 42,86% và độ đặc hiệu 93,02%. Trong tiên lượng tử vong, cả MGS và BISAP đều có AUC cao (0,92 và 0,97 tương ứng), với độ nhạy 100% cho cả hai, nhưng BISAP có độ đặc hiệu cao hơn.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Cả MGS và BISAP đều có giá trị cao trong tiên lượng biến chứng và tử vong do VTC. BISAP có thể áp dụng hiệu quả tại tuyến cơ sở trong sàng lọc sớm bệnh nhân nặng, trong khi MGS có giá trị cao trong môi trường bệnh viện với khả năng theo dõi sau 48 giờ.</p> Đoàn Hiếu Trung, Nguyễn Thanh Ngân Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/847 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Mô tả thay đổi hình ảnh học cổ tử cung trên siêu âm quý II và giá trị dự báo sinh non của sự thay đổi hình ảnh học cổ tử cung ở thai phụ song thai https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/848 <p><strong>Mục tiêu</strong>: Mô tả thay đổi hình ảnh học cổ tử cung (CTC) trên siêu âm quý II và giá trị tiên lượng sinh non của sự thay đổi hình ảnh học cổ tử cung ở thai phụ song thai.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu theo dõi dọc trên 43 thai phụ song thai (14 - 24 tuần) tại Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng. Thai phụ được siêu âm đường âm đạo đánh giá chiều dài CTC và hình dạng lỗ trong mỗi hai tuần, theo dõi đến lúc sinh để ghi nhận kết cục: đủ tháng, sinh non &lt; 37 tuần và &lt; 34 tuần.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Chiều dài CTC giảm dần theo tuổi thai với phương trình hồi quy tuyến tính y = 44,529 - 0,463·x (r = -0,303). 14% thai phụ có thay đổi hình dạng lỗ trong sau 20 tuần. Điểm cắt CTC 35,8 mm dự báo sinh non &lt; 37 tuần với độ nhạy 72,7%, độ đặc hiệu 84,1% và AUC = 0,82 (p &lt; 0,001); điểm cắt 33,8 mm dự báo sinh non &lt; 34 tuần với độ nhạy 75,8%, độ đặc hiệu 75% và AUC = 0,79 (p &lt; 0,001). Chiều dài CTC &lt; 35,8 mm và &lt; 33,8 mm liên quan tăng nguy cơ sinh non &lt; 37 tuần và &lt; 34 tuần (OR = 16,0; 95% CI: 7,6 - 26,0 và OR = 8,0; 95% CI: 4,9 - 18,0). Các lần đo CTC mỗi hai tuần giảm trung bình lần lượt là 1,9; 1,2; 1,2; 1,8 và 1,7 mm.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Chiều dài CTC giảm dần từ 14 - 24 tuần. Chiều dài CTC cắt tại 35,8 mm và 33,8 mm có giá trị tiên lượng tốt cho sinh non &lt; 37 tuần và &lt; 34 tuần (AUC &gt; 0,7).</p> Bùi Văn Hiếu, Nguyễn Thị Hoàng Trang, Trần Ngọc Khánh, Bùi Thị Minh Phượng, Trần Khắc Quang, Lê Minh Tâm, Nguyễn Vũ Quốc Huy Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/848 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Hiệu quả của gabapentin trong giảm đau đa mô thức sau phẫu thuật cột sống thắt lưng https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/849 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Phẫu thuật cột sống thắt lưng có mức độ đau nhiều sau phẫu thuật chỉ sau phẫu thuật lồng ngực và bụng trên. Kiểm soát đau sau phẫu thuật cột sống không đầy đủ không những ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị mà còn gia tăng biến chứng sau phẫu thuật. Gabapentin là thuốc có tác dụng giảm đau thần kinh và được chứng minh có hiệu quả giảm đau sau phẫu thuật cột sống trong một số nghiên cứu. Số lượng nghiên cứu về hiệu quả giảm đau của gabapentin sau phẫu thuật cột sống thắt lưng còn khá ít, do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu hiệu quả của gabapentin trên các bệnh nhân được phẫu thuật cột sống thắt lưng với mục tiêu đánh giá hiệu quả giảm đau, chất lượng hồi phục theo QoR-15 và các tác dụng không mong muốn.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Thử nghiệm lâm sàng, ngẫu nhiên, đối chứng trên các bệnh nhân được phẫu thuật chương trình cột sống thắt lưng từ tháng 6/2023 đến 9/2024, chia làm 2 nhóm (mỗi nhóm 30 bệnh nhân). Nhóm sử dụng gabapentin với liều uống 600 mg trước phẫu thuật 3 giờ, các bệnh nhân ở nhóm chứng không được sử dụng gabapentin. Sau phẫu thuật cả 2 nhóm đều được giảm đau đa mô thức với paracetamol và nefopam truyền tĩnh mạch, ketorolac tiêm tĩnh mạch và giảm đau do bệnh nhân tự kiểm soát đường tĩnh mạch với morphin.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Nhóm sử dụng gabapentin cho thấy điểm VAS, lượng morphin tiêu thụ trong 24 giờ thấp hơn, đồng thời chất lượng hồi phục theo QoR-15 tốt hơn so với nhóm chứng. Không có sự khác biệt về tác dụng không mong muốn giữa 2 nhóm.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Sử dụng gabapentin trước phẫu thuật có hiệu quả giảm đau và tăng cường chất lượng hồi phục sau phẫu thuật cột sống thắt lưng.</p> Lê Văn Tâm, Lý Hoàng Trí, Nguyễn Phương Thảo Tiên Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/849 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh siêu âm nội soi ở bệnh nhân ung thư tụy https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/850 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Ung thư tụy là một trong những loại ung thư của hệ tiêu hóa có tiên lượng xấu nhất. Chẩn đoán sớm ung thư tụy còn gặp nhiều khó khăn. EUS cho phép khảo sát chi tiết nhu mô tụy, phát hiện các khối u nhỏ mà các phương tiện chẩn đoán khác có thể bỏ sót<strong>. </strong></p> <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;1. Mô tả các đặc điểm hình ảnh siêu âm nội soi ở bệnh nhân ung thư tụy; 2. Khảo sát mối liên quan giữa các đặc điểm hình ảnh siêu âm nội soi và đối chiếu kết quả với hình ảnh CT scan.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong>&nbsp;Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên các bệnh nhân nghi ngờ ung thư tụy được làm siêu âm nội soi và sinh thiết bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm nội soi.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;81 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tụy, 97,5% bệnh nhân có kích thước khối u &gt; 20 mm, hầu hết khối u là giảm âm, không đồng nhất, bờ không đều (97,5%, 98,8%, 97,5%). 80,2% bệnh nhân ung thư tụy ở giai đoạn đã di căn hạch, xâm lấn mạch máu, cơ quan lân cận, di căn cơ quan khác. Có sự liên quan có ý nghĩa giữa kích thước khối u với xâm lấn mạch máu (p &lt; 0,05). EUS và CT scan có sự tương đồng trung bình trong chẩn đoán giai đoạn N và xâm lấn mạch máu ở bệnh nhân ung thư tụy.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Hầu hết ung thư tụy biểu hiện là khối giảm âm, không đồng nhất, bờ không đều trên hình ảnh EUS. Có mối liên quan có ý nghĩa giữa kích thước khối u với xâm lấn mạch máu trên EUS. Có sự tương đồng trung bình trong chẩn đoán giai đoạn N và xâm lấn mạch máu giữa CT scan và EUS.</p> Trịnh Phạm Mỹ Lệ, Hồ Đăng Quý Dũng, Trần Đình Trí, Trần Văn Huy Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/850 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Đánh giá hiệu quả của dexamethason trong dự phòng buồn nôn, nôn, giảm đau và cải thiện hồi phục sau phẫu thuật cắt amidan ở trẻ em https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/851 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong>&nbsp;Cắt amidan ở trẻ em gây buồn nôn, nôn, đau và giảm khả năng ăn uống sau phẫu thuật, ảnh hưởng đến hồi phục. Dexamethason có tác dụng chống viêm, chống nôn, sử dụng để cải thiện các triệu chứng hậu phẫu.</p> <p><strong>Mục tiêu</strong>: Đánh giá hiệu quả của dexamethason 0,15 mg/kg trong phòng ngừa buồn nôn, nôn, giảm đau và cải thiện chất lượng hồi phục ở trẻ em cắt amidan.</p> <p><strong>Phương pháp:</strong>&nbsp;Nghiên cứu lâm sàng, ngẫu nhiên, đối chứng trên 100 bệnh nhi chia thành 2 nhóm: nhóm D nhận dexamethason 0,15 mg/kg (tối đa 5 mg) và nhóm C dùng NaCl 0,9%. Các biến số theo dõi gồm: tỷ lệ buồn nôn/nôn, điểm đau FPS-R, thời gian bắt đầu uống nước, lượng nước uống, khả năng ăn cháo loãng và thang điểm QoR-15.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Nhóm D có tỷ lệ buồn nôn/nôn thấp hơn rõ rệt so với nhóm C (12% với 42%, p &lt; 0,05). Điểm đau ở nhóm D giảm tại mọi thời điểm theo dõi; thời gian bắt đầu uống nước sớm hơn, lượng nước uống nhiều và chuyển sang ăn cháo loãng nhanh hơn có ý nghĩa thống kê. Điểm QoR-15 ở nhóm D cao hơn và phục hồi nhiều hơn tại tất cả các thời điểm sau phẫu thuật.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Dexamethason 0,15 mg/kg tiêm tĩnh mạch khi khởi mê là một biện pháp an toàn, hiệu quả trong dự phòng buồn nôn, nôn, giảm đau, cải thiện khả năng uống nước và nâng cao chất lượng hồi phục sau phẫu thuật cắt amidan ở trẻ em.</p> Phan Trần Phúc Bảo, Lê Văn Long, Trần Thị Thùy, Hồ Thị Ny, Nguyễn Văn Minh Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/851 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật thay khớp gối dựa trên nguyên tắc căn chỉnh động học với trợ cụ dẫn đường phẫu thuật in 3D https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/852 <p><strong>Mục tiêu: </strong>Đánh giá kết quả ngắn hạn của phẫu thuật thay khớp gối toàn phần theo nguyên tắc căn chỉnh động học (Kinematic Alignment - KA) có sử dụng trợ cụ dẫn đường phẫu thuật in 3D cá thể hóa (PatientSpecific Instrumentation - PSI) dựa trên các chỉ số hình ảnh học sau mổ, kết quả chức năng và mức độ hài lòng của bệnh nhân.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu tiến cứu được thực hiện trên 30 bệnh nhân thoái hóa khớp gối giai đoạn cuối được phẫu thuật thay khớp gối toàn phần theo nguyên tắc căn chỉnh động học với trợ cụ dẫn đường phẫu thuật in 3D trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 2023 đến tháng 7 năm 2024 tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;Tuổi trung bình của bệnh nhân là 67 ± 11,3; nữ chiếm 80%. Thời gian phẫu thuật trung bình là 60 phút; 100% trường hợp không phải thay đổi kế hoạch so với thiết kế PSI. Trục cơ học đùi - chày cải thiện từ 11,7 ± 1,9° trước mổ xuống 2,3 ± 2,6° sau mổ. Độ xoay ngoài phần đùi so với trục CA là 1,30 ± 1,00°; độ xoay ngoài cấu phần chày so với đường Akagi là 1,36 ± 1,20°; chênh lệch xoay hai cấu phần là 0,78 ± 1,60°. Điểm OKS trung bình tăng từ 16,20 ± 2,11 điểm trước mổ lên 45,03 ± 2,31 điểm sau mổ (≥ 3 tháng), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p &lt; 0,001). Theo thang điểm Beverland, 70% bệnh nhân “Rất hạnh phúc” và 30% “Hạnh phúc”. Ghi nhận 01 trường hợp (3,3%) tràn dịch khớp gối sau mổ 1 tháng, điều trị nội khoa ổn định; không có nhiễm trùng sâu, không hạn chế tầm vận động và không đau trước gối.</p> <p><strong>Kết luận:</strong>&nbsp;Phẫu thuật thay khớp gối toàn phần theo nguyên tắc KA kết hợp trợ cụ PSI cho phép kiểm soát tốt trục chi và độ xoay cấu phần khớp, mang lại kết quả chức năng và mức độ hài lòng cao, với tỷ lệ biến chứng sớm thấp trong theo dõi ngắn hạn.</p> Trần Đức Tuấn, Trần Trung Dũng, Lê Nghi Thành Nhân Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/852 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Ứng dụng siêu âm 2D dựa theo K-TIRADS 2021 trong chẩn đoán tổn thương khu trú tuyến giáp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/853 <p><strong>Mục tiêu:</strong>&nbsp;Mô tả đặc điểm siêu âm 2D tổn thương tuyến giáp theo K-TIRADS 2021. Xác định giá trị của siêu âm 2D dựa theo K-TIRADS 2021 trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp:</strong>&nbsp;178 bệnh nhân có tổn thương tuyến giáp được chỉ định siêu âm 2D và phân loại theo K-TIRADS 2021. Đối chiếu với kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật.</p> <p><strong>Kết quả:</strong>&nbsp;147 bệnh nhân gồm 21 nam (14,3%), 126 nữ (85,7%) có tổn thương khu trú tuyến giáp trong đó 78 tổn thương lành tính (53,1%), 69 tổn thương ác tính (46,9%) theo kết quả mô bệnh học sau phẫu thuật. Siêu âm 2D dựa theo K-TIRADS 2021 tại điểm cắt tại K-TIRADS 5 có độ nhạy 72,5%, độ đặc hiệu 85,9%, độ phù hợp Kappa = 0,59 (p &lt; 0,001), tại điểm cắt tại K-TIRADS 4 có độ nhạy 91,3%, độ đặc hiệu 64,1%, độ phù hợp Kappa = 0,56 (p &lt; 0,001) trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp.</p> <p><strong>Kết luận</strong>: Siêu âm 2D dựa theo K-TIRADS 2021 dễ dàng phân loại trong lâm sàng, có giá trị chẩn đoán ở mức khá trong ung thư tuyến giáp, cần thêm các xét nghiệm bệnh lý để nâng cao giá trị chẩn đoán.</p> Nguyễn Minh Huy, Nguyễn Thanh Thảo Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/853 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Nghiên cứu rối loạn ngôn ngữ ở bệnh nhân nhồi máu não tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/854 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Đột quỵ cho đến nay vẫn luôn được coi là một vấn đề cấp thiết của nền y học ở mọi quốc gia trên thế giới. Biểu hiện lâm sàng của đột quỵ rất phong phú và đa dạng, gây ra nhiều rối loạn cả về vận động, tri giác nhận thức và tâm lý xã hội. Trong đó, rối loạn ngôn ngữ là triệu chứng hay gặp và thường để lại di chứng cho bệnh nhân. Nhồi máu não là dạng đột quỵ phổ biến gây nên rối loạn ngôn ngữ.</p> <p><strong>Mục tiêu: </strong>1. Tìm hiểu các loại rối loạn ngôn ngữ ở bệnh nhân nhồi máu não tại Bệnh viện Trường Đại học Y - DượcHuế; 2. Đánh giá mối liên quan giữa lâm sàng, vị trí, kích thước tổn thương với các loại rối loạn ngôn ngữ.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, ở 30 bệnh nhân nhồi máu não có rối loạn ngôn ngữ tại Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 3/2024 đến tháng 11/2024, đánh giá rối loạn ngôn ngữ theo phương pháp The Aphasia Rapid Test (ART).</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Bệnh nhân ≥ 70 tuổi (70,0%). Nam giới (70,0%), nữ giới (30,0%). Thời gian nhồi máu não bán cấp (43,3%). Tổn thương bán cầu chủ yếu bên trái (70,0%), dưới vỏ (53,3%). Tổn thương động mạch não giữa chiếm tỷ lệ cao (36,7%). Kích thước tổn thương 0,5 - 15 mm (63,3%). Vị trí tổn thương phân chia theo khu vực/thùy có vành tia chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là thùy thái dương, thùy chẩm, liên thùy và tỷ lệ vị trí tổn thương thấp nhất ở thùy đảo, nhân đuôi, tiểu não, thân não, thể chai. Tỷ lệ các loại thất ngôn ở bệnh nhân nhồi máu não Xuyên vỏ vận động (30,0%), Broca (23,2%), Dẫn truyền (16,7%), Wernicke (10,0%), Toàn bộ/ Xuyên vỏ cảm giác/ Xuyên vỏ hỗn hợp (6,7%), không có Mất định danh. Có mối liên quan giữa vị trí tổn thương vỏ não/dưới vỏ và loại thất ngôn với p = 0,047 (&lt; 0,05). Mối liên quan giữa tổn thương thùy thái dương và thất ngôn Wernicke (p = 0,014), mối liên quan giữa tổn thương vành tia và thất ngôn Dẫn truyền (p = 0,003), mối liên quan giữa tổn thương thùy trán và thất ngôn Toàn bộ (p = 0,034), mối liên quan giữa tổn thương trung tâm bán bầu dục và thất ngôn Xuyên vỏ vận động có ý nghĩa thống kê với p = 0,049.</p> <p><strong>Kết luận: </strong>Thất ngôn là một biến chứng hay gặp của đột quỵ nhồi máu não trong đó thất ngôn xuyên vỏ vận động chiếm tỷ lệ cao nhất 30,0%, sau đó là thất ngôn Broca 23,2%. Có mối liên quan giữa vị trí tổn thương vỏ não/dưới vỏ và loại thất ngôn.</p> Nguyễn Đình Toàn, Hoàng Thị Ngọc Thảo, Lê Thị Ngọc Ánh, Lê Văn Chương, Hồ Đình Hùng Tiến, Phan Lê Vy Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/854 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700 Báo cáo ca lâm sàng: Phát hiện đồng thời hai biến thể hiếm gặp của gen ABCG5 trên bệnh nhân trẻ tuổi bị nhồi máu cơ tim cấp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/855 <p>Sitosterolemia là bệnh lý rối loạn chuyển hóa lipid hiếm gặp, gây ra do biến thể gene “ATP-binding cassette sub-family G member 5/8” (<em>ABCG 5/8</em>). Biến thể di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, đặc trưng bởi tình trạng tăng sterol thực vật (chẳng hạn như sitosterol và campesterol). Bệnh nhân biểu hiện xơ vữa động mạch sớm trên lâm sàng. Chúng tôi báo cáo trường hợp bệnh nhân nam 38 tuổi, vào viện vì đau ngực cấp, chẩn đoán Nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên, được chụp và can thiệp mạch vành sớm. Xét nghiệm bilan lipid và phân tích di truyền khẳng định chẩn đoán sitosterolemia với hai biến thể cùng hiện diện trên bệnh nhân. Do đó, với các trường hợp mắc bệnh mạch vành từ khi còn trẻ, cần chỉ định bilan lipid và xét nghiệm gen để chẩn đoán sớm và điều trị đặc hiệu.</p> Nguyễn Đình Đạt, Nguyễn Đỗ Anh, Nguyễn Hoàng Hải, Hoàng Anh Tiến Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/855 Thu, 25 Dec 2025 00:00:00 +0700