Tạp chí Y Dược Huế https://huejmp.vn/index.php/journal <p><strong>Giấy phép xuất bản: 207/GP-BTTTT ngày 12 tháng 06 năm 2023<br />ISSN: 3030-4318 - eISSN: 3030-4326 - DOI: 10.34071/jmp</strong></p> <p>Tạp chí Y Dược Huế, Trường Đại học Y-Dược, Đại học Huế là một tạp chí mang bản sắc riêng và mang tính đặc thù nghề nghiệp của Trường Đại học Y Dược Huế nhằm mục đích phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học và cập nhật thông tin về lĩnh vực y dược cho cán bộ y tế ở miền Trung, Tây Nguyên và cho cả nước.</p> <p>Tạp chí được xếp vào danh mục các Tạp chí Khoa học được tính điểm công trình với số điểm là từ 0 – 1,0 điểm/công trình trong danh mục khoa học của Hội đồng Giáo sư ngành Y và 0 – 0,75 điểm/công trình trong danh mục khoa học Hội đồng Giáo sư ngành Dược.</p> <div> <div>Tạp chí Y Dược Huế tiền thân là Tạp chí Y Dược học (ISSN 1859-3836) ra đời và hoạt động từ 2011-2023 với giấy phép hoạt động số 1720/GP-BTTTT ngày 15/11/2010. Sau tháng 6/2023, Tạp chí Y Dược học đổi tên thành Tạp chí Y Dược Huế với giấy phép xuất bản số 207/GP-BTTTT ngày 12/6/2023 ở hai loại hình báo chí in và điện tử.</div> <div>Xem các số đã xuất bản tại Tạp chí Y Dược học <a href="http://jmp.huemed-univ.edu.vn" target="_blank" rel="noopener">tại đây</a>.</div> </div> vi-VN tcydhue@huemed-univ.edu.vn (Ban Biên tập Tạp chí Y Dược Huế) tcydhue@huemed-univ.edu.vn (Thư ký toà soạn) Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 OJS 3.3.0.17 http://blogs.law.harvard.edu/tech/rss 60 Bảo quản mô cuống rốn người: Cập nhật phương pháp và tiềm năng ứng dụng lâm sàng https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/600 <h3><strong>TÓM TẮT</strong></h3> <p>Mô cuống rốn người, đặc biệt là phần thạch Wharton (WJ), là nguồn mô giàu tế bào gốc trung mô (MSCs), các yếu tố tăng trưởng và chất nền ngoại bào (ECM), với tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong y học tái tạo và điều trị lâm sàng. Nhờ đặc tính biệt hóa đa dòng, điều hòa miễn dịch và khả năng tiết các yếu tố sinh học, MSCs từ cuống rốn được xem là lựa chọn triển vọng cho điều trị các bệnh viêm, mạn tính, thoái hóa và tổn thương cấp tính. Việc bảo quản mô cuống rốn một cách hiệu quả là yếu tố then chốt nhằm duy trì chất lượng tế bào và cấu trúc mô phục vụ điều trị và nghiên cứu. Bài viết tổng quan các phương pháp bảo quản mô cuống rốn hiện nay, bao gồm bảo quản lạnh ngắn hạn, bảo quản lạnh sâu nguyên mô hoặc mô cắt lát, thủy tinh hóa và sấy đông khô. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả bảo quản như thời gian thu nhận mô, điều kiện vô trùng và tốc độ đông/rã đông cũng được phân tích. Đồng thời, bài viết cập nhật các ứng dụng lâm sàng của mô cuống rốn bảo quản trong điều trị các bệnh lý viêm, tự miễn, tổn thương thần kinh, vô sinh và hỗ trợ tái tạo mô, cũng như tiềm năng nghiên cứu trong phát triển các giá đỡ sinh học (scaffold), exosome và chế phẩm sinh học thế hệ mới. Bảo quản mô cuống rốn là lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược trong y học tái tạo và cá thể hóa. Việc chuẩn hóa phương pháp bảo quản và xây dựng hệ thống ngân hàng mô là cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu ứng dụng lâm sàng và nghiên cứu trong tương lai.</p> <p>Từ khóa: mô cuống rốn, thạch Wharton, bảo quản mô, bảo quản lạnh sâu, tế bào gốc trung mô, y học tái tạo.</p> <p>&nbsp;</p> Nguyễn Phương Thảo Tiên, Võ Thị Hạnh Thảo, Nguyễn Thị Hiếu Dung, Bùi Mạnh Hùng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/600 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Mục lục 16(01)_2026 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1048 Mục Lục Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1048 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Sinh thiết lõi tổn thương trong lòng đường mật qua da xuyên gan bằng forceps – Báo cáo loạt trường hợp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1044 <p><span style="font-weight: 400;">Vàng da do tắc mật ác tính là một bệnh cảnh lâm sàng nặng, thường gặp, do nhiều nguyên nhân như ung&nbsp; thư đường mật, ung thư tụy, ung thư tá tràng, hạch di căn... Việc chẩn đoán xác định bản chất tổn thương&nbsp; bằng mô bệnh học có ý nghĩa quyết định đến chiến lược điều trị. Sinh thiết lõi tổn thương trong lòng đường&nbsp; mật qua da xuyên gan bằng forceps là một kỹ thuật bổ sung cho sinh thiết qua nội soi, siêu âm nội soi và&nbsp; sinh thiết qua da trong những trường hợp khó tiếp cận tổn thương bằng các phương pháp trên. Chúng tôi&nbsp; báo cáo 3 trường hợp bệnh nhân được chẩn đoán vàng da tắc mật ác tính dựa vào lâm sàng, xét nghiệm và&nbsp; hình ảnh học; được thực hiện kỹ thuật sinh thiết lõi trong lòng đường mật bằng forceps, kết hợp đồng thời&nbsp; với dẫn lưu đường mật qua da xuyên gan trong xử trí vàng da tắc mật. Không ghi nhận biến chứng trong và&nbsp; sau thủ thuật. Cả 3 trường hợp đều có mẫu sinh thiết đạt tiêu chuẩn chẩn đoán mô bệnh học là tổn thương&nbsp; ác tính. Sinh thiết lõi khối u trong lòng đường mật qua da xuyên gan bằng forceps là một kỹ thuật an toàn&nbsp; và hiệu quả trong việc chẩn đoán xác định bản chất khối u, từ đó mở ra cơ hội điều trị trúng đích cho nhiều&nbsp; bệnh nhân tắc mật ác tính.&nbsp;</span></p> Lê Trọng Bỉnh, Lê Minh Tuấn, Nguyễn Thanh Thảo, Đặng Công Thuận, Phạm Anh Vũ Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1044 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Viêm não do Cytomegalovirus ở bệnh nhân có hệ miễn dịch bình thường: Tổng quan y văn và báo cáo ca bệnh hiếm gặp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1046 <p><strong>Giới thiệu:</strong> Viêm não do Cytomegalovirus (CMV) là thể lâm sàng hiếm gặp ở người có hệ miễn dịch bình thường. Các báo cáo trong y văn rất hạn chế, thường chẩn đoán muộn do không nghĩ đến CMV trong nhóm đối tượng này.<br><strong>Mục tiêu:</strong> Báo cáo một ca bệnh viêm não - màng não do CMV được điều trị thành công tại Bệnh viện Trung ương Huế, kết hợp tổng quan y văn nhằm nâng cao nhận thức lâm sàng về thể bệnh hiếm này.<br><strong>Ca bệnh:</strong> Bệnh nhân nam, 67 tuổi, không có tiền sử suy giảm miễn dịch, nhập viện vì đau đầu kéo dài. Qua nhiều lần chọc dò dịch não tủy (DNT) và điều trị kháng sinh không đáp ứng, kết quả PCR DNT dương tính với CMV và âm tính với Herpes Simplex Virus. Bệnh nhân được chẩn đoán viêm não - màng não do CMV, điều trị bằng valganciclovir đường uống trong 6 tuần, lâm sàng cải thiện hoàn toàn, không để lại di chứng.<br><strong>Kết luận:</strong> Trường hợp này bổ sung bằng chứng cho thấy CMV có thể gây tổn thương não đơn thuần ở người không suy giảm miễn dịch. Kỹ thuật PCR dịch não tủy đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán sớm. Điều trị bằng valganciclovir đường uống hiệu quả và khả thi khi thiếu ganciclovir tiêm tĩnh mạch. Cần lưu ý CMV như một căn nguyên tiềm ẩn trong các ca viêm não không rõ nguyên nhân, đặc biệt khi HSV âm tính</p> Nguyễn Duy Bình, Lê Viết Nhiệm, Nguyễn Xuân Hiền, Trần Xuân Chương, Phạm Văn Đức Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1046 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Giá trị của chỉ số IG và các chỉ số tế bào máu ngoại vi trong chẩn đoán và tiên lượng nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/588 <p><strong>Mục tiêu:</strong> Đánh giá giá trị của chỉ số IG và các chỉ số tế bào máu ngoại vi trong chẩn đoán và tiên lượng nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em. <strong>Phương pháp:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 40 bệnh nhi (tuổi trung bình 44,9 tháng, tỷ lệ nam/nữ 15/25) tại Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Trung ương Huế từ 8/2024 đến 7/2025. Dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng (IG%, IG#, tiểu cầu, lactate, AST, CRP) được thu thập và phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0, sử dụng kiểm định ROC để đánh giá giá trị tiên lượng sốc nhiễm khuẩn (SNK). <strong>Kết quả:</strong> IG% và IG# có giá trị tiên lượng SNK với AUC lần lượt là 0,755 và 0,784 (p &lt; 0,05), độ nhạy 100%, giá trị tiên đoán âm 100%. Tiểu cầu giảm (p = 0,002), lactate (p = 0,021) và AST (p = 0,043) tăng cao ở nhóm SNK so với NKH. Hô hấp (30%) và tiêu hóa (22,5%) là các tiêu điểm nhiễm khuẩn chính. Tỷ lệ cấy máu dương tính thấp (7,5%). <strong>Kết luận:</strong> IG là dấu ấn tiềm năng hỗ trợ chẩn đoán sớm và tiên lượng NKH ở trẻ em.</p> Trần Thị Hạnh Chân, Võ Quốc Bảo, Đặng Thị Tâm, Phan Hoàng Duy, Phạm Kiều Lộc, Lê Hoàng, Mạnh Tuấn Tài, Nguyễn Thị Lan, Trương Thị Na, Hồ Thị Hà My, Trần Nữ Tâm Đan, Nguyễn Hữu Châu Đức Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/588 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Đặc điểm vi học, hoạt tính gây độc tế bào ung thư và kháng viêm của cây Nghệ Vĩnh Linh (Curcuma vinhlinhensis) https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/581 <p><strong>Đặt vấn đề và mục tiêu:</strong> Các loài thuộc chi <em>Curcuma</em>, họ Zingiberaceae từ lâu được sử dụng trong y học cổ truyền để điều trị bệnh dạ dày, hỗ trợ tiêu hóa, trị viêm da, đồng thời thể hiện các hoạt tính sinh học như chống ung thư, chống oxy hoá, kháng khuẩn, kháng viêm... Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định đặc điểm vi học, hoạt tính gây độc tế bào ung thư và kháng viêm <em>in vitro</em> của loài <em>Curcuma vinhlinhensis</em>. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Đối tượng nghiên cứu là loài <em>C. vinhlinhensis</em>. Bột dược liệu được quan sát bằng kính hiển vi quang học, đặc điểm vi phẫu được xác định bằng kỹ thuật nhuộm kép. Tác dụng gây độc tế bào được đánh giá bằng phép thử SRB. Đánh giá tác dụng kháng viêm thông qua khả năng ức chế sản sinh nitric oxid (NO). <strong>Kết quả:</strong> Nghiên cứu đã xác định đặc điểm soi bột, vi phẫu lá và rễ loài <em>C. vinhlinhensis</em>, chỉ ra các đặc điểm vi học đặc trưng của loài cây này. Cao chiết lá và phần dưới mặt đất loài <em>C. vinhlinhensis</em> có khả năng gây độc các dòng tế bào ung thư HepG2, A549 và HT29 với giá trị IC<sub>50</sub> lần lượt trong khoảng 82,46 - 88,59 µg/mL và 189,70 - 191,29 µg/mL, đồng thời ức chế sản sinh NO với giá trị IC<sub>50</sub> lần lượt là 48,21 và 71,45 µg/mL. <strong>Kết luận:</strong> Nghiên cứu lần đầu tiên báo cáo đặc điểm vi học của rễ và lá, tác dụng gây độc tế bào ung thư và ức chế sản sinh NO tiềm năng của loài <em>C. vinhlinhensis</em>.</p> <p><strong>Từ khoá:</strong> vi học, độc tế bào, kháng viêm, <em>Curcuma vinhlinhensis</em>.</p> Lê Thị Bích Hiền, Lê Tuấn Anh, Nguyễn Đình Quỳnh Phú, Lê Khánh Đăng, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Thị Hoài Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/581 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Đặc điểm lâm sàng, X quang và phương pháp điều trị bệnh lý nang xương hàm tại Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/578 <p><strong>Mục tiêu</strong><strong> nghiên cứu</strong><strong>:</strong> nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng, X quang, phương pháp điều trị, kết quả mô bệnh học và các yếu tố liên quan của bệnh lý nang xương hàm. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân tại Bệnh viện Trường Đại học Y- Dược Huế từ 02/2024 đến 03/2025. Dữ liệu từ thăm khám lâm sàng, phim Conebeam CT và giải phẫu bệnh được thu thập, phân tích bằng SPSS 23.0. <strong>Kết quả:</strong> nang xương hàm phổ biến ở nam giới (60,0%), độ tuổi dưới 49 (73,4%), nang chân răng thường gặp nhất (60,0%). Triệu chứng chính là đau (36,7%), vị trí hay gặp nhất ở răng sau hàm dưới (46,7%). Hình ảnh X quang điển hình là một vùng thấu quang một buồng (86,7%),&nbsp; đường viền rõ (86,7%), đồng nhất (93,3%). Kích thước nang có mối liên quan với biến dạng mặt (p&lt;0,05). Bóc trọn nang chiếm chủ yếu với 90,0%. Về mô bệnh học, màu sắc dịch nang khác biệt theo loại nang (p&lt;0,05), phần lớn có thâm nhập tế bào viêm (93,9%). <strong>Kết luận:</strong> Nang chân răng là loại phổ biến nhất; X quang điển hình với thấu quang một buồng, bờ rõ, đồng nhất; bóc trọn nang là phương pháp điều trị chủ yếu; kết hợp lâm sàng, X quang và mô bệnh học là chìa khóa chẩn đoán hiệu quả.</p> Võ Khắc Tráng, Trần Lê Huy, Trần Thị Hà Phương, Nguyễn Hoàng Lân, Hoàng Vũ Minh, Hoàng Minh Phương, Trần Tấn Tài, Nguyễn Văn Minh Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/578 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Đánh giá kết quả sàng lọc thiếu enzyme glucose-6-phosphate dehydrogenase từ mẫu máu thấm khô của trẻ sơ sinh thuộc các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/612 <p style="font-weight: 400;"><strong>Tóm tắt:</strong></p> <p style="font-weight: 400;"><strong>Đặt vấn đề:</strong> Đề tài nhằm hai mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ nguy cơ cao thiếu enzyme G6PD của trẻ sơ sinh thuộc các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên được tham gia sàng lọc tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế; (2) Khảo sát tỷ lệ trẻ nguy cơ cao thiếu enzyme G6PD được chẩn đoán xác định và một số yếu tố liên quan với kết quả sàng lọc. <strong>Đối tượng và phương pháp:</strong> 7.532 trẻ sơ sinh được sàng lọc thiếu enzyme G6PD từ mẫu máu gót chân tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ 01/2024 đến 02/2025. <strong>Kết quả:</strong> Tỷ lệ nguy cơ cao thiếu G6PD là 3,6%, các dân tộc có tỷ lệ cao là Thái, Nùng, Tày, Tà Ôi; dân tộc Kinh có tỷ lệ này là 1,97%. Tỷ lệ trẻ nguy cơ cao được xét nghiệm chẩn đoán là 19,56%; cao nhất là ở Thừa Thiên Huế (57,14%) và thấp nhất là Kon Tum (4,76%). Tỷ lệ dương tính thật khi sàng lọc là 67,92%; riêng ở Thừa Thiên Huế là 100%, các địa phương khác là 62,22% (p = 0,044). Thời gian từ khi lấy mẫu đến khi xét nghiệm sàng lọc có liên quan đến kết quả sàng lọc, tỷ lệ dương tính thật ở nhóm ≤ 5 ngày là 91,3% và &gt; 5 ngày là 50%, p = 0,004. <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ nguy cơ cao thiếu G6PD của trẻ sơ sinh trong khu vực khá cao, có sự khác biệt giữa các dân tộc. Tỷ lệ được xét nghiệm chẩn đoán còn thấp, địa phương gửi mẫu và thời gian từ khi lấy mẫu đến khi sàng lọc có liên quan đến kết quả sàng lọc.</p> Hà Thị Minh Thi, Trần Thị Cẩm Vân, Lê Tuấn Linh, Ngô Thị Diệu Hương, Đoàn Hữu Nhật Bình, Phan Quốc Bảo, Trần Sắc Thái Bản quyền (c) 2025 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/612 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Nghiên cứu một số chỉ số sinh vữa xơ động mạch mới, Triglyceride- Glucose ở người bệnh mạch vành https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1023 <p>Đặt vấn đề: Rối loạn lipid máu và kháng insulin là những yếu tố nguy cơ chính của bệnh động mạch vành (BMV).<br>Mục tiêu: Đánh giá mối liên quan giữa chỉ số triglyceride-glucose (TyG) và một số chỉ số sinh vữa xơ động mạch mới với tỷ lệ mắc và mức độ tổn thương mạch vành.<br>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có đối chứng được thực hiện trên 246 người tham gia, bao gồm 147 người mắc BMV (mức độ hẹp mạch vành trên 50% từ kết quả chụp mạch vành qua da) và 99 người nhóm đối chứng (không có triệu chứng hoặc bất thường trên điện tim, siêu âm tim, và xét nghiệm men tim). Số liệu được thu thập thông qua phiếu nghiên cứu và các xét nghiệm sinh hóa.<br>Kết quả: Chỉ số AIP, chỉ số rủi ro Castelli, non-HDL-C, RLPC, LCI, TyGVB, CHOLINDEX, METS-IR và chỉ số TyG cao hơn đáng kể trong nhóm mắc BMV so với nhóm chứng (p &lt; 0,05). Phân tích đa biến cho thấy các chỉ số TyG, AIP, non-HDL-C, CRI-I, CRI-II có liên quan chặt chẽ với nhóm mắc BMV. Phân tích ROC cho thấy chỉ số AIP có điểm ngưỡng 0,1 với độ nhạy 67,3% và độ đặc hiệu 62,6% trong dự đoán nguy cơ mắc BMV; chỉ số TyG có điểm ngưỡng 8,2 với độ nhạy 39,5% và độ đặc hiệu 83,8%. Các chỉ số TyG, METS-IR, RLPC, AIP, và LCI cũng cao hơn ở nhóm BMV với tổn thương nhiều nhánh.<br>Kết luận: Các chỉ số lipid mới như chỉ số AIP và TyG có giá trị trong dự đoán nguy cơ mắc BMV và mức độ tổn thương mạch vành. Chỉ số TyG và AIP có tiềm năng trở thành dấu ấn sinh học hứa hẹn, tuy nhiên cần thêm các nghiên cứu lớn hơn trong tương lai.</p> Tô Anh Tuấn, Hoàng Anh Tiến, Lê Văn Chi Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1023 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Khảo sát tách chiết DNA từ mẫu phân để giải trình tự gene 16S rRNA hệ vi sinh vật đường ruột https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/57-63 <p style="font-weight: 400;"><strong>Đặt vấn đề:</strong> Sự mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột góp phần vào viêm mạn tính, thúc đẩy tiến triển polyp tuyến và ung thư đại trực tràng (UTĐTT). Nghiên cứu nhằm mục tiêu: (1) Đánh giá hiệu quả tách chiết DNA hệ vi sinh đường ruột từ mẫu phân bằng kit QIAamp PowerFecal Pro DNA; (2) Khảo sát hệ vi sinh vật đường ruột ở ba mẫu nghiệm phẩm (được phân lập từ các bệnh nhân polyp tuyến, UTĐTT và người bình thường) bằng kỹ thuật giải trình tự vùng V3 - V4 gene <em>16S rRNA</em>. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>30 mẫu phân (10 chứng, 10 polyp tuyến, 10 UTĐTT) được tách chiết DNA bằng kit QIAamp PowerFecal Pro DNA; mỗi nhóm chọn ngẫu nhiên 1 mẫu giải trình tự để phân tích hệ vi sinh trên hệ thống Miseq (Illumina). <strong>Kết quả nghiên cứu: </strong>Tách chiết 30 mẫu DNA đạt hiệu suất cao, giá trị trung vị nồng độ DNAlà 252,1 (IQR: 162,0 - 311,9) ng/μL, độ tinh sạch tốt, sản phẩm khuếch đại đặc hiệu (550 bp). Khảo sát được hệ vi sinh vật đường ruột ở ba mẫu cho thấy tỷ lệ ngành <em>Firmicutes/Bacteroidota</em> tăng ở mẫu UTĐTT so với mẫu polyp tuyến và mẫu chứng; chi <em>Prevotella</em> chiếm ưu thế ở mẫu polyp tuyến; các loài <em>Fusobacterium</em> <em>nucleatum, Enterococcus faecalis </em>và<em>Streptococcus gallolyticus </em>không có ở mẫu chứng nhưng được phát hiện ở mẫu UTĐTT. <strong>Kết luận: </strong>Chúng tôi đã tách chiết thành công DNA từ mẫu phân, đạt tiêu chuẩn giải trình tự <em>16S rRNA</em> để phân tích hệ vi sinh vật đường ruột ở bệnh nhân polyp tuyến, UTĐTT.</p> Phan Thị Minh Tâm, Ngô Thị Diệu Hương, Lê Phan Tưởng Quỳnh, Đặng Thanh Nhàn, Hà Thị Minh Thi Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/57-63 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Tỉ lệ đạt mục tiêu kiểm soát Non-hdl-c và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân bệnh mạch vành tắc nghẽn https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1030 <p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Xác định tỉ lệ đạt mục tiêu kiểm soát non-high-density-lipoprotein cholesterol (Non-HDL-C) và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân bệnh tim thiếu máu cục bộ (BTTMCB) có tắc nghẽn động mạch vành (ĐMV). </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu cắt ngang tiến hành trên 226 bệnh nhân (tuổi trung bình 64,72 ± 8,02 tuổi, 69% nam giới) được chẩn đoán đau thắt ngực ổn định có tắc nghẽn trên chụp cắt lớp vi tính ĐMV. Tắc nghẽn ĐMV được định nghĩa khi hẹp ≥ 50% đường kính của ít nhất một nhánh ĐMV thượng tâm mạc. Biland lipid máu thực hiện trong vòng 24 giờ sau khi nhập viện. Kiểm soát Non-HDL-C được định nghĩa là &lt; 2,6 mmol/L ở nhóm nguy cơ cao. </span></p> <p><strong>Kết quả</strong><span style="font-weight: 400;">: Tỉ lệ bệnh nhân điều trị statin là 72.57%, trong đó 64,16% bệnh nhân sử dụng statin &gt;3 tháng. Trung vị của Non-HDL-C là 3,1 mmol/L (khoảng tứ phân vị: 2,47 - 4,26). Tỉ lệ đạt mục tiêu kiểm soát Non HDL-C là 27,88% (n = 63). So với nhóm bệnh nhân có Non-HDL-C đạt mục tiêu, chỉ số khối cơ thể (p = 0,022), tỉ lệ tăng huyết áp (p = 0,003), đái tháo đường (p = 0,025), rối loạn lipid máu (p &lt; 0,001), nồng độ acid uric (p = 0,024), cholesterol toàn phần (p &lt; 0,001), LDL-C (p &lt; 0,001), triglyceride (p = 0,003), tỉ lệ bệnh nhân dùng statin hoặc statin kết hợp ezetimibe (p &lt; 0,001), ti lệ bệnh nhân sử dụng từ 3 tháng đến 1 năm hoặc trên 1 năm (p &lt; 0,001) cao hơn ở bệnh nhân không đạt mục tiêu kiểm soát non-HDL-C. Phân tích hồi quy đa biến cho thấy, tăng huyết áp (tỉ số chênh, odds ratio [OR] 0,38, 95% khoảng tin cậy [KTC] 0,16 - 0,89, p = 0,027), điều trị statin từ 3 - 12 tháng (OR 2,26, 95% KTC 1,05 - 4,88, p = 0,038), điều trị statin kết hợp ezetimibe (OR 4,48, 95% KTC 1,25 - 16,04, p = 0,021), LDL-C &lt; 1,8 mmol/L (OR 9,74, 95% KTC 4,26 - 22,25, p &lt; 0,001) và triglyceride &lt; 1,7 mmol/L L (OR 4,30, 95% KTC 1,90-9,76, p&lt;0,001) là các yếu tố độc lập dự báo kiểm soát Non-HDL-C. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Kiểm soát Non-HDL-C đạt mục tiêu ở khoảng 1/3 bệnh nhân BTTMCB có tắc nghẽn. Tăng huyết áp, thời gian điều trị statin, điều trị statin kết hợp ezetimibe, kiểm soát LDL-C và triglyceride mục tiêu các yếu tố độc lập dự báo kiểm soát Non-HDL-C. </span></p> Hoàng Huy Trường, Đặng Quang Minh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1030 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Đánh giá kết quả phẫu thuật khâu nối gân duỗi bàn tay theo phương pháp Becker https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1034 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Tổn thương đứt gân duỗi bàn tay là dạng chấn thương thường gặp ở chi trên, cần được can thiệp&nbsp; phẫu thuật với nhiều kỹ thuật khâu nối khác nhau. Kỹ thuật Becker sử dụng lõi bốn bó chịu lực, đảm bảo độ&nbsp; vững chắc và hạn chế khoảng trống trung tâm, từ đó tạo điều kiện cho vận động sớm sau mổ.&nbsp; </span></p> <p><strong>Mục tiêu</strong><span style="font-weight: 400;">: Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật khâu nối gân duỗi bàn tay theo phương pháp Becker.&nbsp; </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu tiến cứu được thực hiện trên 41 bệnh nhân với 48 gân duỗi được&nbsp; khâu nối theo kỹ thuật Becker tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế trong thời gian từ tháng 4/2023 đến&nbsp; tháng 6/2025. Bệnh nhân được đánh giá kết quả sau mổ tại các thời điểm 6 tuần và 3 tháng theo thang điểm&nbsp; ASSH, Miller, và QuickDASH.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Tại thời điểm 3 tháng, tỷ lệ kết quả tốt và rất tốt đạt 100% theo ASSH và 93,7% theo phân loại Miller.&nbsp; Không ghi nhận biến chứng nhiễm trùng hay đứt lại gân sau phẫu thuật. Điểm QuickDASH cải thiện rõ rệt từ&nbsp; 13,1 ± 7,9 tại 6 tuần xuống 1,6 ± 2,0 tại 3 tháng (p &lt; 0,001).&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Kỹ thuật Becker là phương pháp khâu nối gân duỗi bàn tay an toàn và vững chắc, cho phép vận động&nbsp; sớm và mang lại kết quả phục hồi chức năng khả quan với tỷ lệ biến chứng thấp. </span></p> Trần Nhật Tiến, Quảng Huy Hoàng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1034 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Nghiên cứu hiệu quả và độc tính của phác đồ pemetrexed - carboplatin trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1032 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Phác đồ Pemetrexed – Carboplatin được chỉ định cho điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai&nbsp; đoạn tiến xa không phải ung thư biểu mô vảy. Phác đồ dù được sử dụng rộng rãi ở trên thế giới nhưng do điều&nbsp; kiện kinh tế nên việc sử dụng ở Việt Nam và nhất là ở khu vực miền Trung có phần bị giới hạn. </span></p> <p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Đánh giá hiệu quả và độc tính của phác đồ pemetrexed - carboplatin ở bệnh nhân ung thư phổi&nbsp; không tế bào nhỏ, không vảy giai đoạn tiến xa.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 30 bệnh nhân ung thư phổi không&nbsp; tế bào nhỏ, không phải tế bào vảy giai đoạn IIIB – IV được điều trị hóa trị bước 1 với phác đồ pemetrexed –&nbsp; carboplatin tại Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Trường Đại Học Y – Dược Huế, Bệnh viện Ung bướu Đà&nbsp; Nẵng từ tháng 4 năm 2022 đến tháng 6 năm 2023.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Nhóm nghiên cứu có độ tuổi trung bình là 60,9 ± 12,3, tỷ lệ nam/nữ là 1,1/1, giai đoạn IV chiếm 90%. Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) đạt 33,3% và tỷ lệ kiểm soát bệnh (DCR) đạt 56,7%. Trung bình thời gian sống&nbsp; thêm không tiến triển (PFS) đạt 9,5 ± 1,1 tháng. Trung bình thời gian sống thêm toàn bộ (OS) đạt 11,5 ± 0,9&nbsp; tháng. Độc tính huyết học thường gặp nhất là thiếu máu với tỷ lệ 60%, trong đó hầu hết ở mức độ 1-2, độc&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><span style="font-weight: 400;">tính ngoài hệ huyết học đa phần ở mức độ 1 - 2 và không ảnh hưởng đến quá trình điều trị. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Phác đồ Pemetrexed - Carboplatin có hiệu quả kiểm soát bệnh cũng như kéo dài thời gian sống thêm&nbsp; cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa không phải tế bào vảy với độ an toàn cao.</span></p> Trần Khánh Luân, Phạm Mai Thuỷ Tiên, Lưu Thị Nhật Linh, Hồ Xuân Dũng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1032 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Đánh giá kết quả sử dụng kháng sinh dự phòng một liều duy nhất trong phẫu thuật nội soi điều trị viêm ruột thừa cấp chưa biến chứng https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1026 <p><strong>Đặt vấn đề và Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa là vấn đề được quan tâm.&nbsp; Do đó, nghiên cứu này đánh giá kết quả sử dụng kháng sinh dự phòng một liều duy nhất trong phẫu thuật nội&nbsp; soi điều trị viêm ruột thừa chưa biến chứng.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu gồm có 414 bệnh nhân chẩn đoán VRTC chưa có biến&nbsp; chứng và được PTNS cắt ruột thừa tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế từ tháng 1/2022 đến tháng&nbsp; 12/2023. Trong đó, 207 bệnh nhân được sử dụng KSDP một liều duy nhất trước phẫu thuật và 207 bệnh nhân&nbsp; sử dụng thêm kháng sinh sau phẫu thuật.&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả</strong><span style="font-weight: 400;">: Cả hai nhóm không có sự khác biệt về đặc điểm chung và lâm sàng. Thời gian phẫu thuật trung bình&nbsp; của nhóm 1 là 29,5 ± 6,1 phút và nhóm 2 là 29,3 ± 6,0 phút (p &gt; 0,05). Thời gian phục hồi nhu động ruột ở&nbsp; nhóm 1 (12,8 ± 3,8 giờ) và ở nhóm 2 (12,6 ± 2,4 giờ), p &gt; 0,05. Biến chứng sau mổ ở nhóm 1 là 5,3% và ở&nbsp; nhóm 2 là 6,3% (p &gt; 0,05). Thời gian sử dụng giảm đau, kháng sinh đường tĩnh mạch và nằm viện sau phẫu&nbsp; thuật lần lượt ở nhóm 1 (1,1 ± 0,4 ngày, 0,2 ± 1,1 ngày và 2,5 ± 1,0 ngày) và ở nhóm 2 (1,4 ± 0,5 ngày, 3,0 ±&nbsp; 1,0 ngày và 3,5 ± 1,0 ngày), p &lt; 0,05.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Sử dụng kháng sinh dự phòng một liều duy nhất trước phẫu thuật là đủ trong trường hợp phẫu&nbsp; thuật nội soi điều trị viêm ruột thừa chưa có biến chứng.</span></p> Phạm Minh Đức, Nguyễn Minh Thảo, Nguyễn Hữu Trí, Phan Đình Tuấn Dũng, Đặng Như Thành, Nguyễn Duy Linh, Phan Thị Lợi, Phan Thị Lam, Nguyễn Thị Tuyết Trinh, Phạm Anh Vũ Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1026 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Trầm cảm và các yếu tố liên quan ở học sinh tại một số trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Huế https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/603 <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ trầm cảm và các yếu tố liên quan ở học sinh trung học phổ thông (THPT) tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế).</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1.226 học sinh thuộc 5 trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Huế từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2023. Bảy câu hỏi đánh giá trầm cảm trong thang đo DASS-21 (Depression Anxiety and Stress Scale 21) được sử dụng để đánh giá mức độ trầm cảm ở học sinh.</p> <p><strong>Kết quả nghiên cứu</strong>: Tỷ lệ trầm cảm ở học sinh chiếm 52,4%; trong đó, tỷ lệ học sinh có mức độ trầm cảm từ vừa đến rất nặng chiếm 33,4%. Mô hình hồi quy đa biến logistic cho thấy các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở học sinh bao gồm: thường trú ở vùng nông thôn, nghiện internet mức độ vừa đến nặng hoặc rất nặng, thiếu sự quan tâm từ bố mẹ, áp lực học tập, không hài lòng trong mối quan hệ với bạn bè, không chia sẻ với gia đình hoặc thầy cô khi gặp khó khăn, và có nhu cầu được hỗ trợ tư vấn tâm lý (p&lt;0,05).</p> <p><strong>Kết luận:</strong> Trầm cảm là một vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến ở học sinh THPT và cần được quan tâm đúng mức. Việc nhận diện sớm và triển khai các biện pháp can thiệp toàn diện sẽ góp phần giảm nguy cơ trầm cảm và nâng cao sức khỏe tâm thần cho học sinh.</p> Nguyễn Văn Hùng, Trần Như Minh Hằng, Đặng Cao Khoa, Trần Bình Thắng, Lê Đình Nhân, Trần Kiêm Hảo, Lương Thanh Bảo Yến, Trần Bá Thanh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/603 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Đánh giá nồng độ CRP huyết thanh, thang điểm DAS 28 CRP, thang điểm DAS 28 ESR và một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1045 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Thiếu máu trong viêm khớp dạng thấp (VKDT) là tình trạng liên quan đến quá trình viêm mạn&nbsp; tính, việc phát hiện và điều trị sớm thiếu máu có thể góp phần cải thiện sức khỏe của người bệnh. Trong VKDT,&nbsp; tình trạng viêm đặc trưng bởi sự gia tăng nồng độ các chất chỉ điểm viêm trong huyết thanh, điển hình là CRP&nbsp; (C-reactive protein) và mức độ hoạt động bệnh được đánh giá thông qua thang điểm DAS 28 (Disease Activity&nbsp; Score 28).&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">1. Xác định nồng độ CRP huyết thanh, thang điểm DAS 28 CRP, thang điểm DAS 28 ESR và tình trạng&nbsp; thiếu máu ở bệnh nhân VKDT; 2. Khảo sát mối liên hệ giữa nồng độ CRP huyết thanh, tình trạng thiếu máu với&nbsp; một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân VKDT.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả cắt ngang 39 bệnh nhân được chẩn đoán VKDT tại&nbsp; Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Nồng độ CRP ở mức cao 45,72 [12,15 - 91,14] mg/L; 2/3 bệnh nhân có mức độ hoạt động bệnh cao&nbsp; (DAS 28 &gt; 5,1); có 51,3% đối tượng nghiên cứu thiếu máu, tỉ lệ hồng cầu nhỏ chiếm 7,7%, hồng cầu bình thường&nbsp; chiếm 43,6% và tỉ lệ thiếu máu nhược sắc theo MCH là 28,2%. Nồng độ CRP có sự tương quan thuận chặt chẽ&nbsp; với tốc độ máu lắng (ESR) giờ đầu (p = 0,001, r = 0,515) và số lượng khớp sưng (p &lt; 0,001, r = 0,533), tương quan&nbsp; thuận trung bình với số lượng khớp đau (p = 0,003, r = 0,463); có mối liên hệ giữa tình trạng thiếu máu với số&nbsp; lượng khớp đau của bệnh nhân (p = 0,02).&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Phần lớn bệnh nhân VKDT có nồng độ CRP tăng, mức độ hoạt động bệnh mạnh và trên 50% bệnh nhân&nbsp; có tình trạng thiếu máu. Thang điểm DAS 28 CRP tương quan rất chặt chẽ với DAS 28 ESR. Nghiên cứu cho thấy&nbsp; có mối liên quan giữa tình trạng thiếu máu, CRP và số lượng khớp đau. Nồng độ CRP huyết thanh tương quan&nbsp; thuận mức độ chặt chẽ với ESR giờ đầu.&nbsp;&nbsp;</span></p> Phan Võ Đình Huy, Trần Thị Tiên Xinh, Trần Trung Đức, Thiều Thị Hà Giang, Phạm Nguyễn Khôi Nguyên, Nguyễn Thị Thanh Phương, Đặng Ngọc Phước, Trần Thị Kim Loan, Nguyễn Minh Quang Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1045 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Kiến thức, thái độ về dự phòng và phát hiện sớm bệnh đột quỵ của người trưởng thành tại một số phường thành phố Huế https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1027 <p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Mô tả kiến thức, thái độ về dự phòng và phát hiện sớm bệnh đột quỵ của người dân thành phố Huế&nbsp; và tìm hiểu một số yếu tố liên quan.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu cắt ngang trên 646 người dân từ 18 tuổi trở lên tại thành&nbsp; phố Huế, từ tháng 08/2024 đến tháng 10/2024. Số liệu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp đối tượng&nbsp; nghiên cứu thông qua bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn. Sử dụng phân tích hồi quy đa biến để xác định các yếu tố&nbsp; liên quan đến kiến thức, thái độ về dự phòng và phát hiện sớm đột quỵ.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Độ tuổi trung bình là (47,96 ± 12,96) với tỷ lệ nam nữ là xấp xỉ nhau (48% nam và 52% nữ). Có 48%&nbsp; đối tượng xác định đúng từ 6 yếu tố nguy cơ trở lên; 43,5% đối tượng nhận biết 3 dấu hiệu khởi phát và 59%&nbsp; đối tượng có kiến thức đạt về cách phòng chống đột quỵ; 62,8% đối tượng có thái độ đạt về dự phòng đột&nbsp; quỵ 31,7% đối tượng xử trí đúng khi phát hiện người đột quỵ; 84,2% đối tượng gọi cấp cứu khi phát hiện bản&nbsp; thân hoặc người thân có dấu hiệu đột quỵ. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức các biện pháp dự phòng&nbsp; đột quỵ bao gồm: giới tính, từng nghe nói về đột quỵ (p &lt; 0,05). Một số yếu tố liên quan đến việc đạt thái độ&nbsp; với việc dự phòng đột quỵ bao gồm: tuổi, bệnh mạn tính (p &lt; 0,05).&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Kiến thức, thái độ về dự phòng và phát hiện sớm dấu hiệu đột quỵ của người dân còn chưa cao. Vì&nbsp; vậy, cần tăng cường các chương trình giáo dục cộng đồng về các biện pháp dự phòng và phát hiện sớm đột&nbsp; quỵ.&nbsp;</span></p> Nguyễn Minh Tú, Bùi Lê Thảo Phương, Trần Quốc Nhật Trường, Ngô Ngọc Hưng, Huỳnh Như Trà My, Trần Trung Kiên, Trần Bình Thắng, Lê Đình Dương, Nguyễn Thanh Gia, Nguyễn Thị Hường Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1027 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Đánh giá kiến thức và mức độ tuân thủ sử dụng thuốc trên bệnh nhân ngoại trú điều trị bệnh tim mạch chuyển hóa https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1031 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Điều trị bệnh tim mạch chuyển hóa là quá trình dài hạn, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa kiến&nbsp; thức điều trị và hành vi tuân thủ. Tuy nhiên, dữ liệu về mối liên quan giữa hai yếu tố này tại khu vực miền&nbsp; Trung còn hạn chế.&nbsp;</span></p> <p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Khảo sát kiến thức và đánh giá mức độ tuân thủ sử dụng thuốc trên bệnh nhân ngoại trú điều trị&nbsp; bệnh tim mạch chuyển hóa.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Mô tả cắt ngang trên 329 bệnh nhân ngoại trú điều trị bệnh tim&nbsp; mạch chuyển hóa tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ 07/2024 đến 09/2024.&nbsp; </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc đạt mức cao (90,9%), tuy nhiên kiến thức sử dụng thuốc mức tốt chỉ&nbsp; chiếm 58,7%. Rào cản chính dẫn đến quên thuốc không chủ ý, bao gồm quên do lịch trình bận rộn (43,5%) và&nbsp; gặp khó khăn khi nhớ lịch dùng (36,8%). Ngược lại, thái độ điều trị rất tích cực khi tỷ lệ tự ý ngưng thuốc (có&nbsp; chủ ý) do tác dụng phụ, cảm thấy khỏe hay khó khăn tài chính chiếm tỷ lệ rất thấp. Đáng chú ý, kiến thức về&nbsp; tác dụng không mong muốn và tương tác thuốc còn rất thấp (lần lượt là 25,5% và 43,8%). Phân tích hồi quy&nbsp; tuyến tính chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa điểm kiến thức và điểm tuân thủ (p &gt; 0,05).&nbsp; </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Mặc dù tỷ lệ tuân thủ cao, nhưng lỗ hổng kiến thức về an toàn thuốc (tác dụng phụ, tương tác) là&nbsp; vấn đề đáng báo động. Các can thiệp giáo dục sức khỏe cần chuyển dịch trọng tâm từ nhắc nhở uống thuốc&nbsp; sang nâng cao hiểu biết về an toàn thuốc và xử trí tác dụng không mong muốn, đặc biệt cần phát huy vai trò&nbsp; của người hỗ trợ điều trị trong gia đình.&nbsp;</span></p> Nguyễn Quỳnh Như, Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Ngô Mai Anh, Phạm Vy Tỷ, Trần Quang Phúc, Nguyễn Thị Hải Yến, Ngô Thị Kim Cúc Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1031 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Khảo sát tuân thủ sử dụng thuốc giảm đau kháng viêm không steroid và các yếu tố liên quan trong điều trị một số bệnh cơ xương khớp tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1028 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Thuốc giảm đau kháng viêm không steroid là nhóm thuốc được sử dụng khá phổ biến trong điều&nbsp; trị các bệnh cơ xương khớp hiện nay. Việc tuân thủ sử dụng thuốc đóng vai trò quan trọng để đạt kết quả&nbsp; điều trị tốt và giảm gánh nặng bệnh tật.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">1. Khảo sát tuân thủ sử dụng thuốc giảm đau kháng viêm không steroid trong điều trị một số bệnh&nbsp; cơ xương khớp tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế; 2. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tuân thủ sử&nbsp; dụng thuốc giảm đau kháng viêm không steroid trong điều trị một số bệnh cơ xương khớp.&nbsp; </span><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong><span style="font-weight: 400;">: Nghiên cứu quan sát, mô tả cắt ngang tiến hành trên 303 bệnh nhân&nbsp; được chẩn đoán mắc các bệnh cơ xương khớp và có sử dụng ít nhất một thuốc giảm đau kháng viêm không&nbsp; steroid, điều trị ngoại trú tại tại phòng khám Nội, phòng khám Ngoại thần kinh và phòng khám Ngoại Chấn&nbsp; thương chỉnh hình - Lồng ngực, Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân, đánh&nbsp; giá mức độ tuân thủ sử dụng thuốc của bệnh nhân bằng thang điểm Morisky - 8.&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Trong tổng số 303 bệnh nhân có 56,1% bệnh nhân nữ, độ tuổi trung bình là 55,82 ± 17,38 (tuổi). Hai lý&nbsp; do thường gặp ảnh hưởng tới việc tuân thủ sử dụng thuốc là bệnh nhân ngừng thuốc khi cảm thấy triệu chứng&nbsp; bệnh thuyên giảm (32,0%) và quên uống thuốc (25,1%). Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc là 75,6% trong&nbsp; khi tỷ lệ không tuân thủ sử dụng thuốc là 24,4%. Trong đó, mức độ tuân thủ tốt chiếm tỷ lệ 39,3%; tiếp theo là&nbsp; mức độ tuân thủ trung bình chiếm tỷ lệ 36,3%. Các yếu tố liên quan đến tuân thủ sử dụng thuốc bao gồm: nhóm&nbsp; tuổi, giới tính, trình độ học vấn, khu vực sống, số lượng viên thuốc và nhắc nhở uống thuốc.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sử dụng thuốc giảm đau kháng viêm không steroid trong điều trị bệnh cơ&nbsp; xương khớp chiếm tỷ lệ khá cao. Tuy nhiên để cải thiện việc tuân thủ sử dụng thuốc, cần có tư vấn sử dụng thuốc&nbsp; và giáo dục bệnh nhân tốt hơn.&nbsp;</span></p> Võ Thị Hồng Phượng, Nguyễn Thị Thanh Hoa Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1028 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính và ảnh hưởng của góc lệch vách ngăn mũi lên thành bên ở bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1024 <p>Đặt vấn đề: Viêm mũi xoang mạn tính xảy ra do sự bất thường dẫn lưu chất nhầy của xoang vào phức hợp lỗ ngách. Lệch vách ngăn mũi làm rối loạn sinh lý mũi và cản trở sự lưu thông. Trong khi đó thành bên mũi đóng vai trò quan trọng trong cấu tạo của phức hợp lỗ ngách. Mối liên quan giữa lệch vách ngăn mũi và cấu trúc của thành bên cần thiết được đánh giá. <br>Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính và ảnh hưởng của góc lệch vách ngăn mũi lên thành bên ở người trưởng thành viêm mũi xoang mạn tính. <br>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 180 bệnh nhân ≥ 18 tuổi viêm mũi <br>xoang mạn tính có lệch vách ngăn mũi và được chụp cắt lớp vi tính hàm mặt tại bệnh viện Trường Đại học <br>Y Dược Huế từ tháng 04/2022 đến 03/2024. Phân tích hình ảnh, đo góc lệch vách ngăn mũi trên mặt phẳng <br>coronal và phân nhóm. Đánh giá các biến thể giải phẫu của thành bên, từ đó đưa ra mối liên quan. <br>Kết quả: Vách ngăn mũi lệch nhiều hơn về phía bên trái (57,8%) và tỷ lệ gai mũi khá cao (43,3%). Góc lệch trung bình là 9,27° ± 2,96. Nhóm II (6° đến 9°) chiếm tỷ lệ cao nhất với 53,3%. Biến thể giải phẫu của thành bên có tần suất khá cao và phân bố khá đều ở cả hai bên. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự tăng góc lệch vách ngăn mũi với tắc phức hợp lỗ ngách và các biến thể giải phẫu của thành bên. Biến thể giải phẫu được tìm thấy nhiều hơn ở thành đối bên với bên vách ngăn mũi bị lệch, trong đó có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa lệch vách ngăn mũi và phì đại cuốn mũi dưới đối bên. <br>Kết luận: Đa số các bệnh nhân có lệch vách ngăn mũi ở mức nhẹ - trung bình. Lệch vách ngăn mũi tăng làm biến đổi cấu trúc của thành bên thông qua việc bù trừ hoặc xuất hiện các biến thể giải phẫu.</p> Phan Thị Thanh Hương, Nguyễn Thanh Thảo, Hoàng Trung Hiếu, Hoàng Ngọc Thành Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1024 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Kết quả phẫu thuật điều trị động kinh ở cơ sở y tế còn hạn chế nguồn lực https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1035 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Động kinh là bệnh lý nội thần kinh thường gặp, tỷ lệ bệnh nhân bị động kinh ở Việt Nam khoảng&nbsp; 4,4/1000 dân. Động kinh kháng trị chiếm khoảng 36,3% bệnh nhân động kinh đến khám và điều trị tại các&nbsp; cơ sở y tế. Phẫu thuật cắt bỏ thương tổn gây động kinh là phương pháp hiệu quả cho bệnh nhân động kinh&nbsp; kháng trị có thương tổn ở não bộ, tỷ lệ thành công có thể đạt 86,5%. Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân động&nbsp; kinh được phẫu thuật ở Việt Nam còn ít và chưa có nhiều kết quả nghiên cứu được công bố.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Đánh giá hiệu quả phẫu thuật điều trị động kinh kháng trị trong điều kiện ở Việt Nam.&nbsp; </span></p> <p><strong>Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu tiến cứu thực hiện trên bệnh nhân động kinh kháng trị&nbsp; được phẫu thuật tại từ tháng 2/2022 tới tháng 3/2025. Bệnh nhân động kinh được xác định là kháng trị khi&nbsp; dùng kết hợp 2 loại thuốc chống động kinh ở liều tối đa nhưng không kiểm soát được cơn. Bệnh nhân được&nbsp; khám lâm sàng, chụp MRI sọ não và đo điện não đồ video để xác định ổ động kinh. Các trường hợp có tổn&nbsp; thương gây động kinh nằm ở vùng chức năng được loại khỏi nghiên cứu. Phân loại Engel được sử dụng để&nbsp; đánh giá kết quả sau mổ.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Trong thời gian 2.2022 đến 3.2025, có 27 bệnh nhân động kinh kháng trị được phẫu thuật cắt bỏ&nbsp; thương tổn và 3 bệnh nhân được cắt 2/3 trước thể chai. Trong số 27 bệnh nhân nói trên, 22 bệnh nhân (81,5%)&nbsp; đạt Engel I, 3 bệnh nhân (11,1%) đạt Engel II và 2 bệnh nhân (7,4%) đạt Engel III sau mổ. Ba bệnh nhân động&nbsp; kinh toàn thể được cắt 2/3 trước thể chai, sau mổ giảm được 70-80% số cơn động kinh. </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Phẫu thuật&nbsp; điều trị động kinh kháng trị có thể thực hiện an toàn và hiệu quả ở cơ sở y tế còn hạn chế nguồn lực.&nbsp;</span></p> Trần Thị Phước Yên, Lê Hưng, Lê Kim Khánh, Nguyễn Thị Kim Ngân, Lê Thị Trường Anh, Trương Văn Trí Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1035 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Khảo sát chức năng tâm thu thất phải bằng siêu âm đánh dấu mô cơ tim trên bệnh nhân suy tim cấp thể phù phổi cấp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1025 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Các chỉ số biến dạng thất phải đánh giá qua siêu âm đánh dấu mô cơ tim có thể đánh giá suy thất&nbsp; phải dưới lâm sàng và sự không phù hợp của chức năng liên thất có thể tiên lượng biến cố ở bệnh nhân suy&nbsp; tim cấp thể phù phổi.&nbsp;</span></p> <p><strong>Mục tiêu</strong><span style="font-weight: 400;">: Khảo sát các chỉ số chức năng tâm thu thất phải và các mối tương quan kèm giá trị tiên lượng tử&nbsp; vong và tái nhập viện qua các chỉ số biến dạng thất phải, chỉ số hiệu số biến dạng dọc vách liên thất (ISLSD) ở&nbsp; bệnh nhân suy tim cấp thể phù phổi.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu cắt ngang có theo dõi ngắn hạn được thực hiện trên&nbsp; 63 bệnh nhân suy tim cấp thể phù phổi cấp. Tất cả bệnh nhân được siêu âm tim tại giường và biến dạng thất&nbsp; phải được đánh giá qua kỹ thuật siêu âm đánh dấu mô cơ tim. Theo dõi biến cố tử vong và tái nhập viện tại&nbsp; bệnh viện và 30 ngày sau xuất viện.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Các chỉ số biến dạng thất phải RV-FWLS, RV-GLS và các chỉ số siêu âm thất phải thường quy TAPSE,&nbsp; RV FAC, RV S’ (TDI) đều thấp hơn trong nhóm bệnh so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê p &lt; 0,0001. Có sự&nbsp; tương quan RVFWLS, RVGLS, với LV-GLS, RV-S’, TAPSE có ý nghĩa thống kê (p &lt; 0,05), chỉ số IVLSD giảm có ý&nbsp; nghĩa (p &lt; 0,05) ở nhóm bệnh nhân có biến cố tim mạch.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Các chỉ số biến dạng thất phải, chỉ số hiệu số biến dạng dọc vách liên thất (ISLSD) giảm ở bệnh nhân&nbsp; suy tim cấp thể phù phổi và có liên quan đến biến cố qua theo dõi ngắn hạn.</span></p> Trần Thanh Đạt, Hoàng Anh Tiến, Nguyễn Thị Thuý Hằng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1025 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Nghiên cứu kết quả sinh thiết bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm nội soi trong chẩn đoán u tụy https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1033 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Ung thư tụy là căn bệnh ác tính cao. Sinh thiết bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm nội soi là&nbsp; kỹ thuật mới giúp thu nhận mẫu mô để góp phần chẩn đoán ung thư tụy, tuy nhiên hiệu quả và độ an toàn&nbsp; của kỹ thuật này ở nước ta vẫn chưa được nghiên cứu nhiều.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">1. Đánh giá kết quả sinh thiết bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm nội soi ở bệnh nhân nghi&nbsp; ngờ ung thư tụy; 2. Khảo sát một số mối liên quan giữa các thông số kỹ thuật và kết quả sinh thiết bằng kim&nbsp; nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm nội soi ở bệnh nhân nghi ngờ ung thư tụy.&nbsp;</span></p> <p><strong>Đối tượng, phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên các bệnh nhân nghi ngờ ung thư tụy&nbsp; qua mẫu bệnh phẩm thu được từ sinh thiết bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm nội soi (EUS-FNB).&nbsp; </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Có 81 bệnh nhân được chẩn đoán ung thư tụy. 92,6% bệnh nhân có kết quả mô bệnh học là ung thư&nbsp; tụy ngay lần EUS-FNB đầu tiên, 6,2% bệnh nhân có kết quả mô bệnh học là ung thư tụy sau 2 lần EUS-FNB,&nbsp; 1,2% bệnh nhân cần lặp lại thủ thuật lần 3 để chẩn đoán ung thư tụy bằng mô bệnh học. Tỉ lệ biến chứng là&nbsp; 4,9% với chảy máu theo đường kim chọc và đau bụng, tất cả các biến chứng tự khỏi mà không cần can thiệp&nbsp; điều trị nào. Số lần chọc trung bình là 1,69 ± 0,664 lần, không có sự khác biệt có ý nghĩa về số lần chọc trung&nbsp; bình giữa các loại kim 19G, 20G và 22G (P = 0,285). Có sự khác biệt có ý nghĩa về áp lực sử dụng khi chọc giữa&nbsp; kim 19G và kim 22G để đạt mẫu mô tiêu chuẩn theo đánh giá đại thể tại chỗ lõi bệnh phẩm thu được (MOSE).&nbsp; </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">EUS-FNB đem lại kết quả chẩn đoán ung thư tụy cao ngay sau lần chọc đầu tiên với tỉ lệ biến chứng&nbsp; thấp, nhẹ và tự giới hạn. Không có sự khác biệt về số lần chọc trung bình giữa các loại kim khác nhau, có thể&nbsp; không sử dụng áp lực âm khi thực hiện EUS-FNB với kim 19G. </span></p> Trịnh Phạm Mỹ Lệ, Hồ Đăng Quý Dũng, Trần Đình Trí, Trần Văn Huy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1033 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Nghiên cứu nồng độ TNF-alpha huyết thanh trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/721 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong>Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh lý tự miễn điển hình gây phá hủy sụn khớp và bào mòn xương dẫn đến tàn phế nặng nề và tử vong sớm. TNF-alpha là một cytokine đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh, TNF-alpha càng tăng càng thúc đẩy quá trình bệnh lý diễn ra mạnh mẽ, do đó liên quan đến mức độ hoạt động của bệnh. Định lượng TNF-alpha giúp làm rõ khả năng đánh giá mức độ hoạt động cũng như tiên lượng bệnh trên bệnh nhân VKDT. <strong>Mục tiêu</strong><strong> nghiên cứu</strong>: Khảo sát nồng độ TNF-alpha huyết thanh ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp và đánh giá mối liên quan giữa nồng độ TNF-alpha huyết thanh với đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp. <strong>Đối tượng và phương pháp: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang có đối chứng trên 42 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đến khám chữa bệnh tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế và 35 người khỏe mạnh làm nhóm chứng từ 03/2023 đến 08/2024. <strong>Kết quả: </strong>bệnh nhân VKDT có nồng độ trung bình TNF-alpha là 33,36 ± 18,93 pg/mL cao hơn nhóm chứng 8,92 ± 2,49 pg/mL (p&lt;0,05). Với giá trị cut-off TNF-alpha là 13,15 pg/mL có AUC (0,982), độ nhạy (90,5%), độ đặc hiệu (97,1%) (p&lt;0,05). TNF-alpha tương quan thuận có ý nghĩa thống kê với SLKS28 và SLKĐ28 (p&lt;0,05). TNF-alpha tương quan thuận có ý nghĩa thống kê với CRP, DAS28 CRP, RF và anti-CCP (p&lt;0,05). <strong>Kết luận: </strong>TNF-alpha huyết thanh tăng cao ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp và liên quan đến sự tiến triển của tổn thương khớp, khuếch đại đáp ứng viêm và nồng độ các tự kháng thể, làm nặng thêm quá trình bệnh lý của bệnh. TNF-alpha càng tăng thì mức độ hoạt động bệnh càng cao.</p> Trần Ngọc Diễm Quỳnh, Phan Thị Minh Phương, Nguyễn Thị Huyền, Phan Ngọc Đan Thanh, Trần Thị Bích Ngọc Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/721 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Nghiên cứu sự phát triển tinh thần vận động ở trẻ rối loạn phổ tự kỷ bằng test Denver II https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/714 <p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là một tình trạng phát triển thần kinh phức tạp, đặc trưng bởi những khiếm khuyết trong giao tiếp, tương tác xã hội và hành vi. Việc hiểu rõ các đặc điểm phát triển tâm- vận động ở trẻ mắc RLPTK có ý nghĩa quan trọng cho can thiệp sớm và quản lý bệnh. <br /><strong>Mục tiêu:</strong> Mô tả đặc điểm phát triển tâm-vận động ở trẻ từ 24 đến 72 tháng tuổi mắc RLPTK. <br /><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu mô tả được tiến hành trên 98 trẻ từ 24 đến 72 tháng tuổi được chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ tại Bệnh viện Trung ương Huế, thời gian từ 12/2024 đến 9/2025. <br /><strong>Kết quả:</strong> Trẻ rối loạn phổ tự kỷ chậm phát triển rõ rệt ở các lĩnh vực liên quan đến giao tiếp như: chậm phát triển ngôn ngữ (100%); chậm phát triển lĩnh vực cá nhân-xã hội (100%). Có 78,6% trẻ rối loạn phổ tự kỷ chậm phát triển vận động tinh tế, thích ứng và 42,9% trẻ rối loạn phổ tự kỷ chậm phát triển vận động thô. Trẻ rối loạn phổ tự kỷ chậm phát triển ở mức vừa và nặng (DQ &lt; 54) chiếm tỉ lệ 53,1%. <br /><strong>Kết luận:</strong> Trẻ rối loạn phổ tự kỷ chậm phát triển nhiều nhất ở các lĩnh vực liên quan đến giao tiếp và phần lớn trẻ có chỉ số phát triển (DQ) &lt; 75.</p> Nguyễn Thị Diễm Chi, Bùi Bỉnh Bảo Sơn, Trần Kiêm Hảo, Tôn Nữ Vân Anh, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Quang Thông Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/714 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Chiết xuất rutin và quercetin từ Hoa hòe (Sophora japonica L.) bằng dung môi sâu eutectic siêu phân tử https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/777 <p><strong>Đặt vấn đề</strong>: Các dung môi sâu eutectic siêu phân tử (SUPRADES) cho thấy tiềm năng trong việc chiết xuất hoạt chất từ dược liệu. <strong>Mục tiêu nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu sử dụng SUPRADES để chiết xuất rutin và quercetin từ Hoa hòe. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu</strong>: Các SUPRADES khác nhau đã được sàng lọc. Quá trình chiết xuất được tối ưu hóa bằng phương pháp bề mặt đáp ứng. Hoạt tính sinh học của các dịch chiết Hoa hòe được so sánh. Chỉ số xanh của phương pháp được tính toán. <strong>Kết quả</strong>: SUPRADES bằng cách kết hợp choline chloride/acetic acid và β-cyclodextrin là dung môi xanh tiềm năng nhất. Kết quả hiệu suất rutin và quercetin thu được ở điều kiện tối ưu đạt 35,21%, cao gấp 2,16 lần so với methanol. Hoạt tính chống oxy hóa của dịch chiết dung môi xanh cao gấp 2,11 lần so với dịch chiết methanol. Chỉ số xanh của phương pháp được đề xuất đạt 0,79. <strong>Kết luận: </strong>Những kết quả này góp phần thúc đẩy phát triển chiến lược chiết xuất xanh các flavonoid từ hoa hòe, đồng thời làm nổi bật tiềm năng của SUPRADES như một lựa chọn thay thế an toàn, hiệu quả và bền vững với môi trường cho các dung môi hữu cơ truyền thống</p> Lê Trọng Nhân, Trần Thị Thùy Linh, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Thị Hoài Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/777 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Kết quả bước đầu của kỹ thuật Szabo T-stenting trong can thiệp tổn thương phân nhánh động mạch vành phức tạp https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/569 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Can thiệp mạch vành qua da (PCI) đối với các tổn thương phân nhánh phức tạp phải sử dụng 2 stent vẫn còn là thách thức đối với các bác sĩ tim mạch can thiệp, vì tỷ lệ thành công thấp và kết quả không như mong đợi. Các phương pháp can thiệp 2 stent hiện tại có những hạn chế như chồng lấn nhiều lớp stent tại vị trí phân nhánh hoặc stent không che phủ hết lỗ nhánh bên do đặt không chính xác tại lỗ nhánh bên. Chúng tôi mô tả kỹ thuật đặt stent cải tiến kỹ thuật Szabo T stent, là sự kết hợp của kỹ thuật T stenting với kỹ thuật Szabo để đặt stent nhánh bên đúng tại lỗ vào nhánh bên, đảm bảo stent che phủ hoàn toàn lỗ nhánh bên và giảm thiểu chồng lấn stent ở góc phân nhánh và mạch chính.</p> <p><strong>Mục tiêu nghiên cứu:</strong> Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả và an toàn của kỹ thuật Szabo T stenting trong điều trị tổn thương phân nhánh động mạch vành.</p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>11 bệnh nhân tổn thương phân nhánh động mạch vành được điều trị bằng kỹ thuật Szabo T stenting tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Chợ Rẫy. Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, theo dõi dọc.</p> <p><strong>Kết quả: </strong>Nghiên cứu ghi nhận 11 bệnh nhân có độ tuổi trung bình là 61,82 ± 9,36 tuổi, giới nam chiếm 72,72%. Bệnh nhân PCI vì hội chứng vành cấp là 81,81%, hội chứng vành mạn là 18,18%. Vị trí tổn thương phân nhánh LM/ LAD/ LCx là 45,45%, LAD/D là 54,55%. Tổn thương phân loại medina 1,1,1 là 81,81%, medina 0,1,1 là 27,27%. Điểm Synstax trung bình là 22,82 ± 5,79 điểm. Tất cả 100% trường hợp đều thành công về mặt kỹ thuật và thủ thuật. Trong thời gian theo dõi trung bình 4,82 ± 1,99 tháng, chúng tôi không ghi nhân trường hợp nào tử vong, huyết khối stent, biến cố tim mạch nặng, nhập viện vì đau ngực.</p> <p><strong>Kết luận:</strong> PCI cho các tổn thương phân nhánh vẫn còn nhiều thách thức, kỹ thuật 2 stent tối ưu đòi hỏi sự cân bằng giữa phạm vi bao phủ hoàn toàn tổn thương và chồng lấn stent tối thiểu ở góc phân nhánh và mạch chính. Kỹ thuật Szabo T-stenting là kỹ thuật 2 stent có vẻ khả thi và an toàn cho các tổn thương phân nhánh động mạch vành.</p> Lý Ích Trung, Hoàng Anh Tiến, Nguyễn Tri Thức Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/569 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị sỏi đường mật trong gan https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1042 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Sỏi trong gan là bệnh lý phổ biến tại Đông Nam Á, đặc trưng bởi tiến triển phức tạp, nhiều biến&nbsp; chứng và khó khăn trong điều trị. Hai vấn đề quan trọng nhất sau phẫu thuật là tỷ lệ sót sỏi và tái phát cao.&nbsp; Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị sỏi đường mật trong gan.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu tiến cứu mô tả trên 105 bệnh nhân sỏi trong gan được&nbsp; phẫu thuật từ 10/2020 đến 4/2023 tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và Bệnh viện Trung ương Huế.&nbsp; </span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Tuổi trung bình 55,9 ± 12,6; nữ chiếm 69,5%; tỷ lệ phẫu thuật lại 72,4%. Triệu chứng thường gặp gồm&nbsp; đau hạ sườn phải (94,3%), sốt (41,9%), vàng da (29,5%). Biến chứng trước mổ gồm nhiễm trùng đường mật cấp&nbsp; 68,6%, xơ teo gan 38,1% và áp xe hóa 21,9%. Sỏi khu trú gan trái đơn thuần 53,3%; 81% có sỏi ngoài gan. Các&nbsp; phương pháp phẫu thuật: mở ống mật chủ lấy sỏi 46,7%; cắt gan 44,8%; nối mật - ruột 8,6%. Thời gian mổ ngắn&nbsp; nhất ở nhóm mở ống mật chủ (150 phút, IQR 100 - 170) và dài nhất ở nhóm nối mật - ruột (195,6 ± 49,8 phút.&nbsp; Biến chứng sau mổ 29,5%, gồm nhiễm trùng vết mổ 21%, áp xe tồn lưu 6,7% và rò mật 2,9%; tỷ lệ biến chứng cao&nbsp; nhất ở nhóm cắt gan (44,7%) và thấp nhất ở nhóm mở ống mật chủ (14,3%). Tỷ lệ sạch sỏi hoàn toàn đạt 61%;&nbsp; cao nhất ở nhóm cắt gan (76,6%) và thấp nhất ở nhóm nối mật - ruột (44,4%). Tái phát sỏi gặp ở 32,8%; thấp nhất&nbsp; nhóm cắt gan (19,4%) và cao nhất nhóm nối mật - ruột (75%). Sỏi gan phải và sỏi hai bên có tỷ lệ sót sỏi cao hơn&nbsp; so với sỏi gan trái. Hồi quy đơn biến cho thấy xơ teo thùy gan, sỏi lan tỏa ≥ 3 hạ phân thùy và cắt gan liên quan&nbsp; đến nguy cơ sót sỏi. Hồi quy đa biến ghi nhận cắt gan là yếu tố độc lập làm giảm nguy cơ sót sỏi sau mổ 0,3 lần.&nbsp; </span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Cắt gan, đặc biệt cắt thùy gan trái, là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị sỏi trong gan,&nbsp; giúp cải thiện tỉ lệ sạch sỏi và giảm tái phát. Ở các trường hợp sỏi lan tỏa, sỏi hai bên hoặc phẫu thuật lại, cần&nbsp; phối hợp linh hoạt nhiều kỹ thuật và phương tiện hỗ trợ trong-sau mổ.&nbsp;</span></p> Đặng Công Thanh, Lê Quốc Phong, Võ Xuân Đạt, Từ Như Hoàng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1042 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Tỷ lệ bệnh nhân loãng xương cao tuổi được điều trị bằng thuốc và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1041 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Các thuốc điều trị loãng xương (LX) như bisphosphonate đã được chứng minh hiệu quả tăng&nbsp; mật độ xương (MĐX) và giảm nguy cơ gãy xương (GX). Tuy nhiên, theo y văn, tỷ lệ điều trị thuốc chưa được&nbsp; cao như mong đợi. Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ điều trị thuốc LX và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi&nbsp; (NCT) tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh (BVĐHYD).&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 482 NCT (≥ 60 tuổi) được đo MĐX&nbsp; từ tháng 11/2022 đến tháng 05/2023, có kèm bộ câu hỏi phỏng vấn. Thông tin ghi nhận bao gồm nhân khẩu&nbsp; học, bệnh lý đồng mắc, tình trạng phụ thuộc hoạt động chức năng cơ bản (ADL), hoạt động chức năng sinh&nbsp; hoạt (IADL), tiền căn GX do LX, chẩn đoán và kê thuốc LX, quá trình tái khám, kết quả MĐX và quá trình tư&nbsp; vấn LX, hiểu biết về LX.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">73,9% bệnh nhân (BN) LX được điều trị thuốc LX. Các yếu tố liên quan đến việc điều trị bao gồm: kết&nbsp; luận LX dựa trên MĐX (OR = 4,49, p = 0,025), được tư vấn LX sau đo MĐX (OR = 7,45, p &lt; 0,001), được chẩn&nbsp; đoán LX bởi bác sĩ Nội cơ xương khớp (OR = 53,63, p = 0,003), BN biết lợi ích của thuốc điều trị LX (OR = 9,82,&nbsp; p = 0,021), bệnh thận mạn (OR = 0,27, p = 0,030) và rung nhĩ (OR = 0,03, p = 0,019).&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Tỷ lệ NCT điều trị thuốc LX tại BVĐHYD là 73,9%. Các yếu tố kết quả MĐX, tư vấn LX, chuyên khoa&nbsp; chẩn đoán LX, hiểu biết của BN về lợi ích của thuốc điều trị LX giúp tăng tỷ lệ điều trị thuốc LX, trong khi đó&nbsp; bệnh thận mạn, rung nhĩ giảm khả năng BN được điều trị thuốc.&nbsp;</span></p> Nguyễn Ngọc Thiên Trang, Cao Thanh Ngọc, Nguyễn Châu Tuấn Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1041 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Đánh giá hiệu quả tiêm nong khớp vai điều trị bệnh lý viêm quanh khớp vai đông cứng tại Bệnh viện đa khoa quốc tế Hải Phòng https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1040 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Viêm quanh khớp vai thể đông cứng (frozen shoulder) là nguyên nhân phổ biến gây hạn chế vận&nbsp; động và giảm chất lượng cuộc sống.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Đánh giá hiệu quả giảm đau và cải thiện chức năng khớp vai sau tiêm nong khớp vai ở bệnh nhân&nbsp; viêm quanh khớp vai đông cứng điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Hải Phòng. </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu can thiệp tiến cứu, một nhóm (Trước-sau), thực hiện từ 01/2024 đến&nbsp; 12/2024. 118 bệnh nhân viêm quanh khớp vai đông cứng được tiêm nong khớp vai dưới hướng dẫn siêu âm&nbsp; bằng methylprednisolon 40 mg, lidocain 2% và 20 mL natri clorid 0,9 % cho đến khi bao khớp giãn tối đa. Đánh giá&nbsp; tại thời điểm trước điều trị (T0) và 4 tuần sau tiêm (T4) gồm: điểm đau VAS, thang điểm SPADI và tầm vận động&nbsp; khớp vai (ROM: gấp, dạng, xoay ngoài). Phân tích bằng kiểm định T-paired; p &lt; 0,05 có ý nghĩa.&nbsp; </span><strong>Kết quả</strong><span style="font-weight: 400;">: VAS giảm từ 6,8 ± 2,1 xuống 3,2 ± 1,3 (giảm 52,9%; p &lt; 0,001). SPADI giảm từ 69 ± 10 xuống 47 ± 11&nbsp; (giảm 31,8%; p &lt; 0,001). ROM gấp tăng từ 72,6 ± 15,3° lên 119,3 ± 16,1° (tăng 64,0%; p &lt; 0,001); dạng và xoay&nbsp; ngoài khớp vai cũng cải thiện có ý nghĩa thống kê.&nbsp;&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Tiêm nong khớp vai giúp giảm đau rõ rệt, cải thiện đáng kể vận động và chức năng khớp vai sau 4&nbsp; tuần ở bệnh nhân đông cứng khớp vai&nbsp;&nbsp;</span></p> Hoàng Văn Dũng, Nguyễn Thị Thu Phương Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1040 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Đánh giá hiệu quả hỗ trợ của laser diode trong che tủy trực tiếp bằng tricalcium silicate https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1043 <p><strong>Đặt vấn đề: </strong><span style="font-weight: 400;">Che tủy trực tiếp đã được chứng minh là phương pháp hiệu quả để điều trị các răng viêm tủy có khả&nbsp; năng hồi phục. Tia Laser có những ưu điểm đáng kể như tác dụng cầm máu, khử khuẩn và kích thích sinh học,&nbsp; mang lại tiên lượng tốt hơn so với che tủy trực tiếp bằng cách thức thông thường.&nbsp;</span></p> <p><strong>Mục tiêu: </strong><span style="font-weight: 400;">Đánh giá kết quả hỗ trợ của Laser diode trong che tủy trực tiếp bằng Tricalcium silicate.&nbsp; </span></p> <p><strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong><span style="font-weight: 400;">Nghiên cứu mô tả tiến cứu, thử nghiệm ngẫu nhiên có nhóm chứng ở&nbsp; 60 răng có chỉ định che tủy trực tiếp trên 56 bệnh nhân. Các bệnh nhân được ghi nhận các đặc điểm lâm sàng,&nbsp; điều trị che tủy trực tiếp bằng Tricalicum silicate có hoặc không có hỗ trợ của Laser diode, trám kết thúc bằng&nbsp; composite, chụp phim X-quang ngay sau điều trị. Sau đó đánh giá các triệu chứng đau tự phát, đau khi gõ, thử&nbsp; lạnh, các hình ảnh trên phim X-quang như dãn dây chằng, thấu quang vùng chop và đo kích thước cầu ngà tại&nbsp; thời điểm 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng sau điều trị.&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết quả: </strong><span style="font-weight: 400;">Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ đau tự phát, đau khi gõ, đáp ứng khi thử lạnh giữa&nbsp; hai nhóm chiếu và không chiếu Laser (p &gt; 0,05). Không có sự khác biệt vể tỉ lệ các biến chứng trên phim X-quang&nbsp; giữa hai nhóm nghiên cứu với p &gt; 0,05. Nhóm có hỗ trợ Laser diode có độ dày cầu ngà cao hớn có ý nghĩa thống&nbsp; kê so với nhóm không chiếu với p &lt; 0,05 tại tất các các thời điểm theo dõi.&nbsp;</span></p> <p><strong>Kết luận: </strong><span style="font-weight: 400;">Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ thành công giữa nhóm chiếu và không chiếu Laser&nbsp; diode 808nm sau 6 tháng theo dõi. Laser có tác dụng hỗ trợ làm dày lớp ngà thứ cấp tạo thành sau che tủy trực&nbsp; tiếp.</span></p> Lê Thị Nhật Linh, Phan Anh Chi Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1043 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Nghiên cứu tỉ lệ chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng, nhẹ cân bằng phương pháp kangaroo và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kon Tum và Bệnh viện đa khoa Khu vực Ngọc Hồi https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1047 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng nhẹ cân bằng phương pháp Kangaroo (KMC) là một can thiệp có hiệu quả cao, chi phí thấp nhằm làm giảm tỉ lệ tử vong và các biến chứng ở trẻ sơ sinh non tháng nhẹ cân, tuy nhiên việc áp dụng, triển khai còn chưa rộng rãi. <br><strong>Mục tiêu:</strong> Xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến thực hiện chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng nhẹ cân bằng phương pháp Kangaroo (KMC) tại tỉnh Kon Tum. <br><strong>Phương pháp</strong>: Nghiên cứu cắt ngang trên 189 bà mẹ có trẻ sơ sinh non tháng nhẹ cân, được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum và Bệnh viện đa khoa khu vực Ngọc Hồi từ tháng 7/2023 đến tháng 8/2024. <br><strong>Kết quả:</strong> Tỉ lệ trẻ sơ sinh non tháng nhẹ cân được thực hiện KMC là 40,7%, KMC được thực hiện chủ yếu bởi mẹ (62,3%), thời gian tiếp xúc da kề da là 18,35 ± 2,59 giờ. Tuổi thai, cân nặng trẻ, đã từng thực hiện KMC trước đó, đã từng nghe về KMC và nguồn tiếp cận thông tin về KMC từ nhân viên y tế có mối liên quan với tỉ lệ thực hiện KMC. Các yếu tố khó khăn trong quá trình thực hiện KMC là: Một mình thực hiện tiếp xúc da kề da; hỗ trợ của người chăm nuôi; đau/mệt mỏi, đặc biệt là sau khi sinh mổ; khó khăn trong việc đưa trẻ tái khám KMC; vắt sữa và các vấn đề khác liên quan đến NCBSM. <br><strong>Kết luận</strong>: Tỉ lệ thực hiện chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng nhẹ cân bằng phương pháp Kangaroo tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kon Tum và đa khoa khu vực Ngọc Hồi thấp. Các lĩnh vực cần cải tiến bao gồm tăng cường tư vấn thực hiện KMC từ nhân viên y tế, thu hút sự tham gia của người thân trong thực hiện tiếp xúc da kề da, tăng cường sự hỗ trợ của người chăm nuôi.</p> Lê Hồng Phong, Đặng Văn Đào, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Thị Thuỳ Trang, Lê Thị Thuý Vân, Nguyễn Hoàng Thuỳ Linh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/1047 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700 Khảo sát một số yếu tố liên quan đến mật độ xương, loãng xương ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Trung ương Huế https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/810 <p><strong>Đặt vấn đề:</strong> Loãng xương thứ phát ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ là một biến chứng chuyển hóa&nbsp; thường gặp. Nghiên cứu này nhằm khảo sát mật độ xương, loãng xương và các yếu tố liên quan đến mật độ xương, loãng xương ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ. <strong>Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: </strong>Nghiên cứu mô tả cắt ngang, gồm 84 bệnh nhân lọc máu chu kỳ tại khoa Thận nhân tạo và Nội Thận, Bệnh viện Trung Ương Huế từ tháng 5/2023 đến tháng 5/2025. <strong>Kết</strong> <strong>quả: </strong>Mật độ xương trung bình tại cột sống thắt lưng là 1,073 ± 0,217 g/cm<sup>2</sup>, tại toàn bộ xương đùi là 0,877 ± 0,184 g/cm<sup>2</sup> và cổ xương đùi là 0,819±0,184 g/cm<sup>2</sup>. Có 20,20% loãng xương và 32,1% thiếu xương theo tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương của WHO. Phân tích hồi quy đa biến mật độ xương tại toàn bộ xương đùi, tại cột sống thắt lưng có liên quan đến&nbsp; tuổi, BMI và PTH máu; phân tích hồi quy đa biến, mật độ xương tại cổ xương đùi có liên quan đến tuổi, giới, BMI và PTH máu. Phân tích hồi quy logistic đa biến nguy cơ loãng xương có 2 yếu tố là tuổi và PTH máu cao. <strong>Kết luận:</strong> Tỷ lệ loãng xương và thiếu xương khá cao ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ. Mật độ xương và loãng xương ở bệnh nhân lọc máu chu kỳ có liên quan với tuổi giới và PTH máu. &nbsp;</p> Võ Tam, Nguyễn Anh Duy, Nguyễn Hoàng Thanh Vân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế https://creativecommons.org/licenses/by-nc-nd/4.0 https://huejmp.vn/index.php/journal/article/view/810 Mon, 30 Mar 2026 00:00:00 +0700