Tóm tắt
Đặt vấn đề: Chiến lược nuôi cấy phôi kéo dài đến giai đoạn phôi nang vẫn là một thách thức trong thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) ở nhóm bệnh nhân có số noãn trưởng thành MII (Metaphase II) thấp ngay cả ở bệnh nhân trẻ tuổi. Mục tiêu: Đánh giá khả năng hình thành phôi nang ở phụ nữ dưới 35 tuổi có dưới 5 noãn MII trong chu kỳ IVF và phân tích các yếu tố liên quan đến sự hình thành phôi nang ở nhóm đối tượng này. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả trên 100 chu kỳ IVF ở bệnh nhân < 35 tuổi với số noãn MII < 5. Các chu kỳ được phân nhóm theo số noãn MII (≤ 2 và 3 - 4 MII). Phân tích hồi quy logistic đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố tiên lượng khả năng hình thành phôi nang. Kết quả: Nhóm 3 - 4 MII có tỷ lệ đạt ít nhất một phôi nang cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm ≤ 2 MII (86,8% so với 65%; p = 0,014). Tuy nhiên, không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ tạo phôi nang và phôi nang tốt giữa hai nhóm (p > 0,05). Phân tích đa biến xác định tuổi người vợ (OR = 0,68; p = 0,017) và số noãn MII (OR = 2,22; p = 0,013) là các yếu tố tiên lượng độc lập, trong khi AMH, BMI và OSI không có ý nghĩa thống kê. Kết luận: Số noãn trưởng thành chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo có phôi nang trong chu kỳ, chất lượng phôi nang không phụ thuộc đáng kể vào số lượng noãn trưởng thành.| Đã xuất bản | 18-06-2026 | |
| Toàn văn |
|
|
| Ngôn ngữ |
|
|
| Số tạp chí | Tập 16 Số S-1 (2026) | |
| Phân mục | Nghiên cứu | |
| DOI | 10.34071/jmp.2026.S-1.6 | |
| Từ khóa | đáp ứng kém, phôi nang, phụ nữ trẻ Poor ovarian response, Blastocyst formation, Young women |
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
Trung, N. V., & Tâm, L. M. (2026). Nghiên cứu khả năng nuôi cấy đến giai đoạn phôi nang ở phụ nữ dưới 35 tuổi có số noãn trưởng thành ít hơn 5. Tạp Chí Y Dược Huế, 16(S-1), 58–67. https://doi.org/10.34071/jmp.2026.S-1.6






