Giá trị tiên lượng của chỉ số phản ứng viêm toàn thân (SIRI) trước điều trị đối với thời gian sống thêm ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ điều trị bằng EGFR-TKI thế hệ 1

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.
PDF Download: 0 View: 0

Indexing

CÁC SỐ TỪ 2011-2023
Tạp chí Y Dược Học

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Mặc dù liệu pháp nhắm trúng đích bằng thuốc ức chế tyrosine kinase (EGFR-TKI) đã cải thiện đáng kể tiên lượng cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN), sự khác biệt về thời gian sống thêm giữa các cá thể vẫn là một thách thức lâm sàng lớn. Các bằng chứng gần đây cho thấy phản ứng viêm hệ thống đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy vi môi trường u và kháng thuốc. Chỉ số phản ứng viêm toàn thân (SIRI) – kết hợp giữa bạch cầu trung tính, đơn nhân và lympho – được kỳ vọng là một dấu ấn sinh học phản ánh toàn diện sự cân bằng giữa miễn dịch và viêm của cơ thể. Mục tiêu: Đánh giá giá trị tiên lượng của SIRI đối với thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) ở bệnh nhân UTPKTBN điều trị bằng TKI thế hệ 1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu - tiến cứu có theo dõi dọc trên 94 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến xa có đột biến EGFR, được điều trị bằng thuốc TKI thế hệ 1 (Gefitinib hoặc Erlotinib) tại Bệnh viện Trung ương Huế, Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng và Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế. Chỉ số SIRI được tính toán từ xét nghiệm máu ngoại vi trước điều trị. Đường cong ROC được sử dụng để xác định điểm cắt tối ưu cho SIRI. PFS được phân tích theo phương pháp Kaplan-Meier và kiểm định Log-rank. Mô hình hồi quy Cox đa biến được áp dụng để xác định giá trị tiên lượng độc lập của SIRI sau khi hiệu chỉnh với các yếu tố lâm sàng. Kết quả: Nhóm nghiên cứu có tuổi trung bình là 65,83 ± 10,60; giai đoạn IV chiếm 95,7%. Điểm cắt SIRI tối ưu để dự báo PFS là 2,65 (AUC = 0,721; p = 0,001). Trung vị PFS của toàn mẫu là 9,0 tháng. Phân tích sống thêm cho thấy nhóm có SIRI thấp (≤ 2,65) có trung vị PFS dài hơn đáng kể so với nhóm có SIRI cao (> 2,65) (11,0 tháng so với 7,0 tháng; Log-rank p < 0,001). Đặc biệt, phân tích hồi quy Cox đa biến khẳng định SIRI cao trước điều trị là yếu tố tiên lượng độc lập cho PFS ngắn hơn (Hazard Ratio [HR] = 2,39; 95% CI: 1,44 - 3,94; p = 0,001). Các yếu tố lâm sàng khác như tuổi, BMI, ECOG và tình trạng hút thuốc không thể hiện ý nghĩa tiên lượng độc lập (p > 0,05). Kết luận: Chỉ số phản ứng viêm toàn thân (SIRI) là một dấu ấn sinh học đơn giản, rẻ tiền nhưng có ý nghĩa tiên lượng độc lập đối với PFS ở bệnh nhân UTPKTBN điều trị bằng TKI thế hệ 1. Việc ứng dụng SIRI giúp tối ưu hóa phân tầng nguy cơ và hỗ trợ cá thể hóa chiến lược điều trị trong kỷ nguyên của liệu pháp nhắm trúng đích.
https://doi.org/10.34071/jmp.2026.S-1.37
Đã xuất bản 18-06-2026
Toàn văn
PDF Download: 0 View: 0
Ngôn ngữ
Số tạp chí Tập 16 Số S-1 (2026)
Phân mục Nghiên cứu
DOI 10.34071/jmp.2026.S-1.37
Từ khóa Ung thư phổi không tế bào nhỏ, EGFR-TKI, chỉ số phản ứng viêm toàn thân, thời gian sống thêm Non-small cell lung cancer, EGFR-TKI, Systemic Inflammation Response Index, Progression free

Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International .

Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế

Đăng, T. H. H., Lộc, P. P., Dũng, H. X., An, Đặng H., Quyên, P. T. Đỗ, Cầu, N. V., & Thủy, N. T. (2026). Giá trị tiên lượng của chỉ số phản ứng viêm toàn thân (SIRI) trước điều trị đối với thời gian sống thêm ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ điều trị bằng EGFR-TKI thế hệ 1. Tạp Chí Y Dược Huế, 16(S-1), 300–306. https://doi.org/10.34071/jmp.2026.S-1.37