Tóm tắt
Đặt vấn đề: Xương đông khô đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng như một vật liệu ghép tiềm năng trong điều trị các khuyết hổng nha chu và hứa hẹn mở rộng ứng dụng trong các lĩnh vực chấn thương chỉnh hình và phẫu thuật cột sống. Những nghiên cứu quốc tế đã chứng minh hiệu quả vượt trội của xương đông khô trong việc thúc đẩy tái tạo xương so với nhiều loại vật liệu ghép khác. Tuy nhiên, để đảm bảo chất lượng và tính an toàn sinh học của loại vật liệu này, đặc biệt là sau khi xử lý chiếu xạ nhằm tiệt trùng, việc xây dựng một quy trình bảo quản tối ưu là hết sức cần thiết. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tiêu chuẩn bảo quản xương đông khô chiếu xạ vẫn còn hạn chế, do đó việc thiết lập một quy trình bảo quản khoa học, hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế là yêu cầu cấp thiết để nâng cao giá trị ứng dụng của vật liệu này trong lâm sàng.
Mục tiêu: Nghiên cứu xây dựng quy trình chế tạo Xương đông khô chiếu xạ.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu gồm 40 mẫu xương người đồng loại (allograft) được thu nhận từ các nguồn hiến tặng hợp pháp. Sau khi trải qua quy trình xử lý xương nhằm loại bỏ các thành phần không mong muốn và đảm bảo an toàn trước khi tiến hành đông khô, các mẫu được đông khô và chiếu xạ bằng tia gamma nhằm mục đích tiệt trùng. Các mẫu xương này được sử dụng để đánh giá chất lượng, tính ổn định và đặc tính sinh học trong các điều kiện bảo quản khác nhau.
Kết quả: Kết quả nghiên cứu cho thấy quy trình đông khô kết hợp chiếu xạ xương người đồng loại với liều 25 kGy giúp đạt hiệu quả tiệt trùng tuyệt đối, với tỉ lệ vô khuẩn sau chiếu xạ đạt 100%. Đồng thời, các đặc tính cơ học và sinh học của vật liệu vẫn được duy trì ở mức chấp nhận được khi chiếu xạ được thực hiện ở điều kiện nhiệt độ thấp. Hàm lượng ẩm sau đông khô dưới 6%, đáp ứng tiêu chuẩn bảo quản dài hạn. Việc kiểm soát nghiêm ngặt điều kiện xử lý và bảo quản đóng vai trò then chốt trong duy trì chất lượng vật liệu, góp phần định hướng xây dựng quy trình chuẩn cho ứng dụng lâm sàng tại Việt Nam.
Kết luận: Nghiên cứu đã xây dựng thành công một quy trình chế tạo xương người đồng loại đông khô chiếu xạ, đảm bảo tính khả thi trong điều kiện thực tế tại Việt Nam. Quy trình bao gồm các bước xử lý sơ bộ trong môi trường vô khuẩn, làm sạch bằng oxy già và rửa siêu âm, đông khô ở –60 °C đến khi hàm lượng nước còn lại dưới 6%, và chiếu xạ bằng tia gamma với liều chuẩn 25 kGy. Kết quả cho thấy quy trình này không những đạt hiệu quả tiệt trùng tuyệt đối mà còn duy trì được các đặc tính cơ học và sinh học cơ bản của vật liệu.
| Đã xuất bản | 28-06-2026 | |
| Toàn văn |
|
|
| Ngôn ngữ |
|
|
| Số tạp chí | Tập 16 Số 3 (2026) | |
| Phân mục | Nghiên cứu | |
| DOI | 10.34071/jmp.2026.3.782 | |
| Từ khóa | Freeze-dried bone |
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
Nguyễn Thị Chuyên. Biến đổi cấu trúc và khả năng dung nạp sau ghép đồng loại xương tươi, đông khô và bảo quản lạnh sâu trên thực nghiệm [Luận văn Thạc sĩ]. Thành phố Hà nội: Trường Đại học Y Hà Nội; 2016.
American Association of Tissue Banks. Standards for Tissue Banking. 14th ed. McLean (VA): American Association of Tissue Banks; 2016. Available from: http://www.aatb.org/AATB-Standards-forTissue-Banking
Ariffin AA, Chan HH, Yusof N, Mohd S, Ramalingam S, Ng WM, Mansor A. Establishing Freeze Drying Process for Cortical and Cancellous Bone Allograft Cubes. JUMMEC 2019; 22(1): 66-71.
Conrad EU, Ericksen DP, Tencer AF, Strong DM, Mackenzie AP. The effects of freeze-drying and rehydration on cancellous bone. Clin Orthop Relat Res 1993; (290): 279-284.
Erivan R, Villatte G, Cueff R, Boisgard S, Descamps S. Rehydration improves the ductility of dry bone allografts. Cell Tissue Bank 2017; 18(3): 307–312.
INTERNATIONAL ATOMIC ENERGY AGENCY, Radiation Sterilization of Tissue Allografts: Requirements for Validation and Routine Control , Non-serial Publications , IAEA, Vienna (2007).
Singh R, Singh D, Singh A. Radiation Sterilization of Tissue Allografts: A Review. World Journal of Radiology 2016; 8(4): 355–369.






